Dấu ấn nổi bật sau ba thập kỷ
Ngày 28/7/1995, khi chính thức trở thành thành viên thứ bảy của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới. Sau 31 năm, ASEAN không chỉ trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu mà còn là không gian để Việt Nam khẳng định vai trò ngày càng chủ động trong liên kết kinh tế khu vực, từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị của ASEAN.
Theo ông Lê Hữu Phúc, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, tiến trình hội nhập kinh tế ASEAN luôn gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa của Việt Nam. Đây là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng cánh cửa để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào dòng chảy thương mại khu vực.
Lực lượng tiêu binh thực hiện nghi thức thượng cờ ASEAN. Ảnh: TTXVN
Từ một nền kinh tế còn nhiều rào cản trong giai đoạn đầu hội nhập, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện thể chế, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế. Cùng với đó, vai trò của Việt Nam trong ASEAN cũng có nhiều thay đổi, từ một thành viên tiếp cận các quy tắc thương mại tự do trở thành đối tác chủ động tham gia xây dựng và hoàn thiện các cơ chế hợp tác kinh tế của khối.
Những chuyển biến đó được phản ánh rõ qua quy mô thương mại ngày càng mở rộng. Nếu năm 1996, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN mới đạt khoảng 5,9 tỷ USD thì đến năm 2025 đã tăng khoảng 15 lần, vượt 91 tỷ USD, đưa ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam.
Không chỉ thương mại, ASEAN còn là một trong những nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) quan trọng với tổng vốn đăng ký lũy kế vượt 100 tỷ USD, góp phần hình thành mạng lưới liên kết sản xuất và đầu tư ngày càng chặt chẽ giữa Việt Nam và các nền kinh tế trong khu vực. Dòng vốn này không chỉ gia tăng về quy mô mà còn tạo điều kiện thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam với mạng lưới sản xuất của ASEAN.
Chặng đường 31 năm hội nhập cũng ghi dấu sự chuyển biến trong vai trò của Việt Nam, từ một thành viên mới tham gia vào tiến trình liên kết khu vực trở thành quốc gia tích cực đóng góp vào các sáng kiến hợp tác và định hướng phát triển chung của khu vực. Việc Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF 2026) vào đầu tháng 6/2026 tiếp tục thể hiện vai trò ngày càng chủ động của Việt Nam trong các vấn đề chiến lược của ASEAN, đồng thời khẳng định uy tín và vị thế của đất nước sau hơn ba thập kỷ hội nhập.
Thủ tướng Lê Minh Hưng và các đại biểu chụp ảnh chung tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba tháng 6/2026. Ảnh: TTXVN
Nhìn lại chặng đường hơn ba thập kỷ, hội nhập ASEAN không chỉ mở rộng thị trường cho hàng hóa Việt Nam mà còn góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia ngày càng sâu vào chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam từng bước khẳng định vai trò là một thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Tận dụng hiệu quả dư địa từ thị trường ASEAN
Bước sang giai đoạn hội nhập sâu rộng, ông Lê Hữu Phúc đánh giá, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam không còn chỉ đến từ ưu đãi thuế quan mà phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực.
Ông Lê Hữu Phúc, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan. Ảnh: TTXVN
Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) tiếp tục tạo nền tảng thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu khi phần lớn các dòng thuế đã được cắt giảm về 0%, thủ tục hải quan ngày càng được đơn giản hóa thông qua Cơ chế một cửa ASEAN và cơ chế tự chứng nhận xuất xứ. Cùng với đó, quy tắc xuất xứ linh hoạt giúp doanh nghiệp tận dụng tốt hơn nguồn nguyên liệu trong nội khối, nâng cao khả năng đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan.
Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan, các cơ chế thuận lợi hóa thương mại cũng góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng kết nối chuỗi cung ứng giữa các nền kinh tế ASEAN. Tuy nhiên, ưu đãi thuế quan chỉ là điều kiện cần. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu phát triển bền vững mới là yếu tố quyết định để hàng hóa Việt Nam mở rộng thị phần trong khu vực.
Xu hướng chuyển đổi xanh cũng đang diễn ra mạnh mẽ tại nhiều nền kinh tế ASEAN, kéo theo những yêu cầu ngày càng cao đối với doanh nghiệp về quy trình sản xuất, bao bì, trách nhiệm môi trường và tính minh bạch của sản phẩm. Đây vừa là thách thức, vừa mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị và từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường khu vực.
Theo ông Lê Hữu Phúc, để tận dụng hiệu quả dư địa từ thị trường ASEAN, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy xuất khẩu đơn thuần sang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng khu vực. Điều này đòi hỏi sự chủ động kết nối với các tập đoàn lớn thông qua hoạt động cung ứng nguyên phụ liệu, linh kiện hoặc hợp tác sản xuất theo mô hình OEM, ODM. Đồng thời đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu kỹ quy định của từng thị trường, từ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy tắc xuất xứ đến thị hiếu tiêu dùng và văn hóa kinh doanh. Việc xây dựng thương hiệu, duy trì quan hệ hợp tác lâu dài với đối tác và chủ động cập nhật thông tin thị trường sẽ là nền tảng để doanh nghiệp không chỉ mở rộng xuất khẩu mà còn tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và phân phối của ASEAN.
Sau 31 năm đồng hành cùng ASEAN, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế từng bước hội nhập trở thành thành viên tích cực của Cộng đồng Kinh tế ASEAN. Trong chặng đường tiếp theo, việc tận dụng hiệu quả các cam kết nội khối, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực sẽ tiếp tục là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng không gian phát triển, đồng thời đóng góp vào sự gắn kết và phát triển bền vững của ASEAN.