Đóng

5 nhiệm vụ trọng tâm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ

Kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030 xác định 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1764/QĐ-TTg ngày 10/9/2026 ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 3/9/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo.

Kế hoạch nhằm tiếp tục tổ chức nghiên cứu, quán triệt và triển khai nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả Chỉ thị số 37-CT/TW; tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện của các bên trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.

Việc triển khai Kế hoạch phải bảo đảm phù hợp với yêu cầu, bối cảnh mới và định hướng của Đảng về an ninh quốc gia, hội nhập quốc tế, đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Đồng thời, Kế hoạch xác định các nội dung, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu và lộ trình phù hợp; đề cao tính chủ động của các bộ, cơ quan, tổ chức và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ giai đoạn 2026 - 2030 và từng thời kỳ.

Kế hoạch tập trung vào 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

Kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030 xác định 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.

Thứ nhất, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan hệ lao động. Các bộ, cơ quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động về những nhiệm vụ chủ yếu trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.

Đối tượng thực hiện là toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.

Thứ hai, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quan hệ lao động. Để hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường quản lý nhà nước về quan hệ lao động, Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng, trình Chính phủ và ban hành theo thẩm quyền các văn bản sửa đổi, bổ sung quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động.

Bộ Nội vụ tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn các bên trong quan hệ lao động thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về lao động; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đề xuất hoàn thiện chính sách tiền lương đối với người lao động.

Cùng với đó, nhằm triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động, Bộ Nội vụ xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức, hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động và các chủ thể liên quan.

Nội dung tập trung đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, quản lý tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp, giải quyết tranh chấp lao động và đình công.

Bộ Nội vụ đồng thời theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động tại doanh nghiệp nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa tranh chấp lao động, đình công và hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, cơ quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nghiên cứu, xây dựng và từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu về lao động, quan hệ lao động. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong theo dõi, phân tích, dự báo tình hình quan hệ lao động được triển khai nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước và hỗ trợ các bên trong quan hệ lao động.

Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Kế hoạch yêu cầu chỉ đạo thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động tại doanh nghiệp trên địa bàn; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật.

Các địa phương cũng phải thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình, kịp thời phối hợp, hỗ trợ giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động, hạn chế tranh chấp kéo dài và các vụ việc phức tạp về quan hệ lao động.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đổi mới phương thức và thúc đẩy công tác tuyên truyền, tập hợp, vận động đoàn viên, người lao động; thu hút người lao động và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp tham gia vào hệ thống Công đoàn Việt Nam.

Đồng thời, đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, trong đó ưu tiên những nơi có đông lao động, quan hệ lao động tiềm ẩn những vấn đề phức tạp.

Kế hoạch cũng đặt yêu cầu quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là chủ tịch công đoàn cơ sở, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện có hiệu quả các biện pháp hỗ trợ, bảo vệ đoàn viên, cán bộ công đoàn và tổ chức công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, qua đó tổ chức công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp thực sự vững mạnh.

Thứ tư, thúc đẩy đối thoại, thương lượng tập thể. Bộ Nội vụ tăng cường chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý lao động tại địa phương tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho các bên trong quan hệ lao động.

Cùng với đó, tăng cường các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật để các bên tham gia có hiệu quả vào đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cùng các tổ chức đại diện khác của người sử dụng lao động tăng cường hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp.

Mục tiêu là giúp doanh nghiệp tham gia hiệu quả vào các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể và ký kết thỏa ước lao động tập thể ở phạm vi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp và cấp ngành, qua đó xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Cuối cùng, giải quyết hiệu quả tranh chấp lao động, đình công. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố rà soát, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế hòa giải lao động, trọng tài lao động. Mục tiêu là để các thiết chế này tham gia tích cực, hiệu quả vào quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Bộ Công an kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý những hành vi lợi dụng, lôi kéo, kích động, ép buộc người lao động gây rối an ninh, trật tự.

Đối với các tỉnh, thành phố có đông lao động, doanh nghiệp, khu công nghiệp thuộc các vùng kinh tế trọng điểm, nơi tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều tranh chấp lao động, Kế hoạch yêu cầu chủ động xây dựng, tổ chức thực hiện thí điểm mô hình giải quyết tranh chấp lao động.

Theo đó, bố trí một số hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động chuyên trách theo hướng vừa thực hiện giải quyết tranh chấp lao động, vừa hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.

Thiên Kim