Đóng

6 giải pháp đồng bộ để kiểm soát mục tiêu lạm phát

PGS. TS Ngô Trí Long đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm, neo giữ kỳ vọng thị trường, minh bạch giá hàng Nhà nước... ổn định kinh tế vĩ mô.

Lạm phát được kiểm soát

Ngày 12/1, Học viện Tài chính tổ chức Diễn đàn thường niên về diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2026.

Phát biểu tại diễn đàn, PGS.TS Nguyễn Đào Tùng - Giám đốc Học viện Tài chính nhấn mạnh, năm 2025 Việt Nam đã thành công trong việc thực hiện mục tiêu kép được Quốc hội thông qua. Tăng trưởng GDP đạt trên 8% trong khi lạm phát được kiểm soát ở mức 3,3%.

Đáng chú ý, kết quả này đạt được trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động mạnh, chịu tác động từ những thay đổi chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, căng thẳng địa chính trị gia tăng và thiên tai diễn biến phức tạp.

PGS.TS Nguyễn Đào Tùng - Giám đốc Học viện Tài chính phát biểu tại diễn đàn.

Theo PGS.TS Nguyễn Đào Tùng, nhờ các chính sách điều hành đúng hướng và kịp thời của các cấp, các ngành, nền kinh tế vẫn duy trì được nhịp tăng trưởng theo kế hoạch đặt ra từ đầu năm.

Số liệu chính thức do Bộ Tài chính công bố ngày 5/1/2026 cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát do Quốc hội đề ra.

Tính chung cả năm 2025, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27%. Các động lực tăng trưởng trong nước tiếp tục phát huy vai trò khi tiêu dùng tăng 7,95%, tích lũy tài sản tăng 8,68% với xu hướng quý sau cao hơn quý trước.

Về ổn định kinh tế vĩ mô, trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng cao và chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức lớn, các áp lực về lạm phát và tỷ giá từng bước được hóa giải. Mặt bằng lạm phát duy trì dưới ngưỡng 4%, góp phần củng cố niềm tin của thị trường và tạo dư địa cho điều hành chính sách.

Tuy vậy, ông nhận định, những thách thức đặt ra cho năm 2026 là rất lớn. Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% đòi hỏi tổng cầu phải tăng mạnh trên cả 3 trụ cột gồm tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu. Áp lực đối với chính sách tiền tệ và tài khóa theo đó gia tăng đáng kể, trong khi yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng cao và ổn định kinh tế vĩ mô trở nên đặc biệt khó khăn.

Bên cạnh đó, triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2026 được dự báo thiếu thuận lợi với nhiều yếu tố bất định, từ chính sách thuế quan, nguy cơ tăng trưởng chậm tại các nền kinh tế lớn đến biến động mạnh của thị trường tài chính và tiền tệ, tạo thêm thách thức cho điều hành kinh tế trong nước.

6 nhóm giải pháp

Dự báo lạm phát năm 2026, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng, áp lực lạm phát tiếp tục đến từ tác động trễ của tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, do mức tăng của tín dụng trong năm 2025 không quá cao so với lịch sử 10 năm trở lại đây nên tác động đến lạm phát có thể không quá lớn, khi một phần không nhỏ chảy vào thị trường tài sản.

Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 cũng tạo sức ép lên giá cả, bởi tăng trưởng GDP cao đồng nghĩa với việc tổng cầu, bao gồm đầu tư và tiêu dùng, đều phải mạnh.

Về tổng thể, có thể nhận định rằng áp lực lạm phát trong năm 2026 sẽ cao hơn so với năm 2025, nhưng không nhiều. Tốc độ tăng CPI hàng tháng được dự báo vào khoảng 0,3%/tháng và lạm phát trung bình cả năm 2026 sẽ xoay quanh mức 3,5% (+/- 0,5%).

Các đại biểu tham dự tại diễn đàn.

Đồng quan điểm, PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế nhận định, năm 2025 Việt Nam đã kiểm soát lạm phát khá thành công trong bối cảnh quốc tế tiềm ẩn nhiều bất định. Kết quả này cho thấy hiệu quả của công tác điều hành vĩ mô và sự phối hợp chính sách tương đối nhịp nhàng giữa các công cụ quản lý.

Bước sang năm 2026, mục tiêu tăng trưởng phấn đấu từ 10% trở lên đi cùng định hướng kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5% đặt ra yêu cầu điều hành theo tư duy quản trị rủi ro và xây dựng kịch bản chủ động.

Theo chuyên gia Ngô Trí Long, việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và điều hành giá sẽ giữ vai trò then chốt trong việc vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa kiểm soát lạm phát.

Tổng hợp dự báo của nhiều tổ chức quốc tế cho thấy, trong kịch bản cơ sở, CPI của Việt Nam năm 2026 có thể tăng quanh mức 3,4 - 3,8% hoặc trong khoảng 3,5 đến 4,0%. Tuy nhiên, các rủi ro mang tính cộng hưởng giữa chi phí đẩy và cầu kéo vẫn hiện hữu, nhất là khi giá năng lượng, nguyên vật liệu và chi phí logistics chưa thực sự ổn định.

Để đạt được mục tiêu lạm phát do Quốc hội đề ra, PGS. TS Ngô Trí Long cho rằng, cần triển khai đồng bộ 6 nhóm giải pháp. Trọng tâm là neo giữ kỳ vọng lạm phát của thị trường và người dân; minh bạch lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý; tăng cường "bộ đệm cung" đối với các hàng hóa thiết yếu; nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách theo mục tiêu tăng trưởng gắn với ổn định vĩ mô; giảm chi phí logistics và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; đồng thời nâng cao chất lượng giám sát thị trường và năng lực cảnh báo sớm rủi ro.

Diễn biến giá cả trong năm 2025 phản ánh bức tranh đa chiều với sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm hàng, dịch vụ. Một số nhóm hàng thiết yếu như dịch vụ y tế, giáo dục, điện sinh hoạt, nhà ở và ăn uống ngoài gia đình có xu hướng tăng theo lộ trình điều chỉnh và nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, một số nhóm hàng khác chịu tác động từ xu hướng giảm của giá hàng hóa cơ bản trên thị trường thế giới, góp phần bù đắp áp lực tăng giá trong nước.

Đáng chú ý, lạm phát cơ bản bình quân năm 2025 thấp hơn mức tăng CPI chung cho thấy các yếu tố tiền tệ vẫn được kiểm soát tốt. Kết quả này gắn với sự thận trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời khẳng định vai trò của kiểm soát giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu.

Nguyên Thảo