Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026), phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam về dấu ấn của ngành trong tiến trình phát triển kinh tế đất nước.
TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam
Kiến tạo sức bật cho nền kinh tế
- Thưa ông, chặng đường 75 năm xây dựng và phát triển, đâu là dấu ấn nổi bật nhất của ngành Công Thương đối với diện mạo kinh tế Việt Nam?
TS. Lê Duy Bình: Theo tôi, dấu ấn nổi bật nhất của ngành Công Thương trong 75 năm qua là đã góp phần chuyển nền kinh tế Việt Nam từ trạng thái "có gì bán nấy" sang nền kinh tế tổ chức sản xuất, tổ chức thị trường tốt hơn và tham gia sâu hơn vào dòng chảy thương mại toàn cầu. Điều này rất quan trọng, vì một nền kinh tế muốn "lớn lên" không thể chỉ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ. Cần có công nghiệp để tạo ra sản phẩm, có thương mại để đưa sản phẩm đến thị trường, có năng lượng để bảo đảm sản xuất.
Dấu ấn ấy thể hiện rất rõ qua việc Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có quy mô xuất nhập khẩu lớn, tổng kim ngạch năm 2025 đạt hơn 930 tỷ USD. Sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng. Hệ thống phân phối, thương mại trong nước và năng lực hội nhập cũng phát triển mạnh hơn nhiều so với trước đây.
Nhưng điều đáng nói hơn không nằm ở con số tuyệt đối mà đã góp phần tạo ra không gian thị trường rộng hơn cho doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận thị trường, tham gia chuỗi cung ứng, mở rộng sản xuất và nâng dần chuẩn quản trị.
Song quy mô đã lớn cách đánh giá thành công cũng phải thay đổi, không đơn giản xuất khẩu được bao nhiêu, có thêm bao nhiêu thị trường mà doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị trong quá trình đó; tỷ lệ nội địa hóa được cải thiện đến đâu; công nghiệp hỗ trợ phát triển thế nào; khu vực doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để bước lên những nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị hay chưa?
Dấu ấn ngành Công Thương trong giai đoạn vừa qua rất rõ nhưng nhiệm vụ giai đoạn tới còn lớn hơn: chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng chất lượng tăng trưởng, từ tham gia thị trường sang nâng vị thế trong chuỗi giá trị và từ tăng trưởng dựa nhiều vào bên ngoài sang củng cố năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam.
Tăng trưởng xuất khẩu phải đi cùng nội địa hóa
- Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, ông nhìn nhận thế nào về con đường để doanh nghiệp Việt Nam nâng tỷ lệ nội địa hóa, gia tăng giá trị và từng bước giữ vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu?
TS. Lê Duy Bình: Hội nhập của Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới. Trước đây trọng tâm lớn là mở cửa thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài, tăng kim ngạch xuất khẩu và tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA). Những mục tiêu này vẫn rất quan trọng nhưng trong giai đoạn hiện nay, thước đo của hội nhập cần được nhìn sâu hơn: doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ở vị trí nào, giá trị gia tăng được giữ lại trong nước bao nhiêu và năng lực sản xuất nội địa được nâng lên đến mức nào.
Việt Nam đã có nền tảng hội nhập rất rộng đã ký kết và thực thi 17 FTA, qua đó mở rộng không gian thị trường rất lớn cho nền kinh tế. Điều này tạo cơ hội quan trọng cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận nhiều thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng đơn hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất khu vực, toàn cầu. Nhưng có thị trường là một chuyện, đứng vững và đi lên trong chuỗi giá trị lại là câu chuyện khác.
Nhìn từ số liệu xuất nhập khẩu năm 2025, Việt Nam đã đạt quy mô thương mại rất lớn với tổng kim ngạch 930,05 tỷ USD. Đây là thành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn sẽ thấy dư địa nâng chất lượng hội nhập còn rất rộng. Tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành chủ lực vẫn thấp, đơn cử ngành điện tử mới đạt khoảng 35%, cơ khí khoảng 25-30%; phần lớn doanh nghiệp vẫn ở khâu gia công, lắp ráp, tức là những mắt xích tạo giá trị thấp trong chuỗi cung ứng.
Vì vậy, con đường đi lên của doanh nghiệp Việt Nam trước hết phải bắt đầu từ năng lực sản xuất nền tảng, quản trị và tiêu chuẩn. Không thể nói đến nâng tỷ lệ nội địa hóa nếu doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức sản xuất linh kiện, vật liệu, thiết bị đầu vào và các dịch vụ kỹ thuật đạt chuẩn. Do đó, cần nâng cao năng lực kỹ thuật, công nghệ và trình độ quản trị để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia. Phải thoát khỏi bẫy giá rẻ, lợi nhuận thấp bằng, tối ưu quản trị để cải thiện biên lợi nhuận.
Xuất nhập khẩu Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, khả năng chống chịu và giá trị gia tăng. Ảnh minh họa.
Trong hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ khoảng 5.000 doanh nghiệp tham gia cung ứng cho khu vực FDI; hơn 300 doanh nghiệp là nhà cung ứng cho tập đoàn đa quốc gia và hơn 100 doanh nghiệp đạt cấp nhà cung ứng cấp 1. Như vậy, vấn đề không nằm ở số lượng doanh nghiệp mà ở chất lượng doanh nghiệp.
Vấn đề rất quan trọng nữa là liên kết, doanh nghiệp Việt Nam phần lớn có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế nên nếu đi riêng lẻ sẽ rất khó đáp ứng các đơn hàng lớn, tiêu chuẩn cao và yêu cầu ổn định của chuỗi cung ứng toàn cầu. Vì vậy, cần tăng cường liên kết, tham gia cụm ngành, hiệp hội ngành hàng và hợp tác với khu vực FDI để học hỏi công nghệ, nâng năng lực sản xuất.
Nhà nước có vai trò kiến tạo thông qua cải cách thể chế, hạ tầng logistics, hỗ trợ chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng yếu tố quyết định nhất vẫn là nội lực của chính doanh nghiệp. Chính sách có thể mở đường song doanh nghiệp phải đầu tư vào công nghệ, nhân lực, quản trị, chuẩn hóa quy trình, đáp ứng ESG và xây dựng uy tín.
Hội nhập sâu không thể chỉ đo bằng việc hàng Việt Nam đi được bao xa mà cần đo bằng việc doanh nghiệp Việt Nam đứng được ở nấc thang nào của chuỗi giá trị toàn cầu. Đó mới là thước đo thực chất của năng lực hội nhập.
Nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế
- Bước vào giai đoạn phát triển mới, theo ông, ngành Công Thương đóng vai trò ra sao trong việc kiến tạo các động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế Việt Nam?
TS. Lê Duy Bình: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng yêu cầu "xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế"; "giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu". Trong bối cảnh đó, ngành Công Thương càng phải phát huy vai trò tiên phong trong phát triển công nghiệp nền tảng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, phát triển thị trường trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực tăng trưởng mới, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Năm 2025, kinh tế Việt Nam ghi nhận những kết quả rất tích cực, đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu chủ yếu, với tăng trưởng GDP ước đạt hơn 8%, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; nhưng thế giới biến động nhanh, cạnh tranh thương mại gia tăng, tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn bền vững ngày càng khắt khe, chúng ta không thể chỉ dựa vào những động lực cũ.
Tất nhiên, động lực tăng trưởng hiện hữu cần tiếp tục được duy trì song phải tìm kiếm và củng cố những động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đây là những không gian phát triển rất quan trọng, đòi hỏi ngành Công Thương phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái.
Theo tôi, ngành Công Thương cần tập trung vào 3 hướng lớn: Thứ nhất là tiếp tục cải cách thể chế và môi trường kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh công bằng để doanh nghiệp tự chủ hơn. Quy định pháp luật vừa đáp ứng yêu cầu quản lý vừa khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực; chính sách cần khuyến khích đổi mới sáng tạo, giải phóng tiềm năng sản xuất của nền kinh tế.
Thứ hai, phát triển năng lực công nghiệp nội địa, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến chế tạo, logistics, năng lượng, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Nền kinh tế độc lập, tự chủ không có nghĩa là khép lại với thế giới, tự chủ phải được hiểu là có năng lực tham gia sâu vào mạng sản xuất toàn cầu với vị thế chủ động hơn, có doanh nghiệp trong nước đủ sức liên kết với FDI và từng bước làm chủ các khâu có giá trị cao hơn.
Thứ ba, phát huy thị trường trong nước là trụ cột tăng trưởng. Với quy mô dân số hơn 100 triệu dân, thị trường nội địa là không gian quan trọng để doanh nghiệp Việt phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu, thử nghiệm mô hình kinh doanh mới và tích lũy năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp đứng vững ở thị trường trong nước sẽ có nền tảng tốt hơn để vươn ra quốc tế.
Nếu làm được điều đó, ngành Công Thương sẽ tiếp tục là một trong những lực kéo quan trọng giúp Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và tự chủ hơn trong kỷ nguyên phát triển mới.
- Xin cảm ơn ông!
Kỷ niệm 75 năm Ngày Truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026) là dấu mốc khẳng định chặng đường phát triển bền bỉ và những đóng góp quan trọng của ngành đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, ngành Công Thương luôn giữ vai trò động lực trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo an ninh năng lượng, thúc đẩu thương mại, dịch vụ và hội nhập kinh tế quốc tế.