Đóng

80 năm Hiến pháp 1946: Ngọn đuốc soi đường - Bài 2: Tầm nhìn kinh tế và dấu ấn người Công Thương

Hiến pháp năm 1946 không có chương riêng về kinh tế. Nhưng chỉ bằng vài điều ngắn, bản văn đã đặt nền cho quyền làm ăn của người dân, bảo đảm tài sản của nhà công thương, dung hoà quyền lợi chủ - thợ để cùng kiến thiết đất nước. Trong Quốc hội làm ra bản Hiến pháp ấy, người của ngành Công Thương có mặt từ Ban dự thảo tới nghị trường.

Tầm nhìn kinh tế của Hiến pháp năm 1946 thể hiện ở sự khẳng định quyền bình đẳng của mọi công dân trong đời sống kinh tế, sự tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người dân. Trong bối cảnh chính quyền cách mạng vừa ra đời, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, ngân khố quốc gia gần như trống rỗng, việc ghi nhận những quyền cơ bản ấy trong bản Hiến pháp đầu tiên mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tư tưởng tiến bộ về quyền công dân và vai trò của người dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng phản ánh sự nhất quán với những cam kết được đưa ra ngay từ những ngày đầu giành độc lập.

Từ bức thư ngày 13/10/1945

Ngày 13/10/1945, báo Cứu quốc số 66 đăng Thư gửi các giới Công Thương Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức thư giao cho giới công thương một nhiệm vụ riêng: "Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công Thương trong công cuộc kiến thiết này". Câu tiếp theo là một quan niệm kinh tế rất rõ: "Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng".

Bìa tập Tuyên ngôn, Điều lệ, Chương trình của Công Thương Cứu quốc Đoàn (trong Mặt trận Việt Minh), Hà Nội, năm 1945. Ảnh: Thư viện Quốc gia Pháp

Trước đó, giới Công Thương đã đáp lời Chính phủ bằng tài sản. Trong Tuần lễ Vàng (17 - 24/9/1945), những gia đình như ông bà Trịnh Văn Bô ở phố Hàng Ngang, ông Nguyễn Sơn Hà ở Hải Phòng, bà Vương Thị Lai chủ hiệu tơ lụa Lợi Quyền đã đem vàng, đem cơ nghiệp đặt vào tay chính quyền non trẻ. Ngày 2/10/1945, Bộ Quốc dân Kinh tế ra nghị định bãi bỏ những luật lệ buộc phải xin phép trước khi khai trương, khuếch trương, nhượng lại, di chuyển cơ quan thương mại, kỹ nghệ, tiểu công nghệ. 

Năm điều khoản làm nền cho kinh tế

Chương II của Hiến pháp, Nghĩa vụ và quyền lợi công dân, chứa những điều khoản trực tiếp định hình đời sống kinh tế.

Các điều khoản Hiến pháp năm 1946 liên quan trực tiếp đến kinh tế. Nguồn: toàn văn Hiến pháp năm 1946.

Điều 12 của Hiến pháp năm 1946 chỉ vỏn vẹn 13 chữ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Đức và Bùi Thúy Hiền về chế độ sở hữu qua các bản Hiến pháp Việt Nam, đây là lần đầu tiên quyền tư hữu tài sản được ghi nhận trong Hiến pháp của nước Việt Nam hiện đại. Với người buôn bán, chủ xưởng, chủ hiệu năm 1946, câu ấy có giá trị như một bảo lãnh của Nhà nước.

Điều 12 và Điều 13 đứng liền nhau: một điều bảo đảm tài sản của người có của, một điều bảo đảm quyền lợi của người lao động. Ngày 8/11/1946, một ngày trước khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội thông qua Dự án luật lao động 25 điều với tinh thần "không khuếch trương cuộc đấu tranh giữa lao động với chủ mà cố gắng đoàn kết, dung hoà quyền lợi của cả hai bên để phát triển kinh tế". Chủ được bảo đảm tài sản, thợ được bảo đảm quyền lợi, hai bên hợp tác thay vì đối đầu. Ở phiên bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tóm lại: "Kiến thiết phải sản xuất. Sản xuất phải cần có sức lao động".

Tầm nhìn ấy còn nằm ở cách tổ chức quyền lực. Điều 23 trao cho Nghị viện nhân dân quyền "biểu quyết ngân sách" cùng quyền chuẩn y các hiệp ước Chính phủ ký với nước ngoài. Tiền của dân do người dân bầu ra quyết định cách tiêu, hiệp ước thương mại với nước ngoài phải qua tay đại biểu của dân.

Người của Bộ trong Ban dự thảo

Ông Đào Hữu Dương, cử nhân luật, đại biểu thuộc danh sách Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội, có tên trong Ban dự thảo Hiến pháp 11 người do Quốc hội bầu ngày 2/3/1946. Một tháng sau, ngày 1/4/1946, ông được Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế cử giữ chức Ty trưởng Ty Pháp chế, đơn vị tương ứng với Vụ Pháp chế ngày nay. Cùng năm ấy ông đứng tên chủ nhiệm Việt Nam kinh tế nguyệt san, cơ quan của Bộ Quốc dân Kinh tế, tờ báo được coi là tiền thân của Báo Công Thương. Ngày 27/9/1946, ông được cử giữ chức Phó Đổng lý Sự vụ của Bộ.

Trang bìa Việt Nam Kinh tế Nguyệt san, cơ quan của Bộ Quốc dân Kinh tế, năm thứ nhất, tập II. Ảnh tư liệu

Trong những tháng Ban dự thảo làm việc, một thành viên của Ban đồng thời là người đứng đầu bộ phận pháp chế của bộ làm kinh tế. Văn bản còn lại đến nay chưa cho biết ông góp vào điều khoản cụ thể nào. Điều chắc chắn là tiếng nói của bộ máy kinh tế có mặt trong căn phòng nơi bản Hiến pháp thành hình.

Những nhà Công Thương trên nghị trường

Cụ Ngô Tử Hạ, chủ nhà in, đại biểu cao tuổi nhất, chủ trì phiên họp đầu tiên của Quốc hội. Một ông chủ nhà in mở đầu phiên họp đầu tiên của cơ quan quyền lực cao nhất, chi tiết ấy nói nhiều về chỗ đứng của người Công Thương trong nhà nước mới.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng đầu tiên của bộ làm kinh tế, trúng cử đại biểu Quốc hội khoá I tại tỉnh Hưng Yên trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà tại Pháp năm 1946. Ảnh tư liệu

Ông Nguyễn Sơn Hà, chủ hãng sơn Gecko ở Hải Phòng, là gương mặt nổi bật nhất của giới công thương ở Quốc hội lập hiến. Ông cùng ông Nguyễn Mạnh Hà mở những điểm phát chẩn cứu đói năm 1945; gia đình ông hiến toàn bộ nữ trang trong lần ủng hộ đầu tiên cho chính quyền mới. Tại kỳ họp thứ hai, khi Quốc hội tranh luận về chế độ một viện, ông đứng trong số đại biểu ủng hộ, cùng các ông Hồ Đức Thành, Đỗ Đức Dục, Đinh Gia Trinh, Đào Trọng Kim. Cũng trong kỳ họp ấy, ông Hoàng Văn Đức, người từng làm trợ lý kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát biểu về bản dự thảo thay mặt nhóm Dân chủ.

Ông Nguyễn Sơn Hà (1894 đến 1980), đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá V. Ảnh tư liệu

Bộ trưởng kinh tế trước nghị trường

Kỳ họp thứ hai còn là lần đầu bộ làm kinh tế chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội. Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng là một trong các thành viên Chính phủ đứng trả lời chất vấn. Trước đó, ngày 1/4/1946, chính ông đã ký nghị định dựng hệ thống cơ quan kinh tế theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương: cấp kỳ có Sở Kinh tế kỳ, các tỉnh có liên quan kinh tế với nhau lập thành quận kinh tế, mỗi tỉnh, mỗi thành phố có phòng kinh tế.

Trang mở đầu Nghị định số 77-BKT/I ngày 1/4/1946 của Bộ trưởng Chu Bá Phượng tổ chức lại Bộ Quốc dân Kinh tế, đăng Việt Nam Dân quốc Công báo số 23 ngày 8/6/1946. Ảnh: Thư viện Quốc gia Việt Nam

Hiến pháp vừa thông qua, bộ máy được dựng lại theo khuôn mới. 17 ngày sau, ngày 26/11/1946, Sắc lệnh số 220 ấn định tổ chức và quyền hạn của Bộ Kinh tế, gồm một Văn phòng, các phòng sự vụ, một Ban Thanh tra, một Ban Cố vấn kinh tế cùng ba nha chuyên môn là Nha Thương vụ, Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ, Nha Tiếp tế.

Người Công Thương trên con đường làm Hiến pháp năm 1946. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo; Lịch sử Việt Nam tập 10; Lịch sử Công Thương Việt Nam 1945 đến 2010

Từ Điều 12 đến kinh tế tư nhân hôm nay

Mỗi bản Hiến pháp sau đều trả lời câu hỏi về chế độ kinh tế theo yêu cầu của thời kỳ mình. Hiến pháp năm 1959 dành riêng Chương II cho chế độ kinh tế và xã hội; Điều 18 của bản Hiến pháp ấy vẫn ghi Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các vật dụng riêng. Hiến pháp năm 2013 ghi tại Điều 33: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm"; Điều 51 xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, các chủ thể bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định "phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, sáng 6/11/2026. 

Tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên sáng 6/11/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra rằng, sự ổn định của các giá trị, nguyên tắc nền tảng tạo cơ sở pháp lý vững chắc để người dân, doanh nghiệp yên tâm xây dựng và thực hiện các kế hoạch lâu dài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu: "Phát triển hôm nay phải tạo thêm năng lực cho ngày mai, không để lợi ích trước mắt làm tổn hại môi trường, sự ổn định và cơ hội của các thế hệ tiếp theo".

Tư tưởng đề cao vai trò của người dân trong phát triển kinh tế đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, với những quy định về quyền bình đẳng của mọi công dân trên phương diện kinh tế và bảo đảm quyền tư hữu tài sản. Những quy định ấy càng có ý nghĩa trong buổi đầu lập quốc, thời điểm nhiều nhà công thương đã đóng góp tài sản, công sức cho cách mạng và sự nghiệp kiến quốc. Tám mươi năm sau, nhìn lại chặng đường lịch sử đó, giới công thương Việt Nam có quyền tự hào về vai trò và những đóng góp của mình đối với đất nước, cũng như những giá trị tiến bộ về quyền kinh tế của người dân đã được ghi nhận ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên.

Đại Bàng