Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo trong những năm gần đây đang làm thay đổi mạnh mẽ cách thức sáng tạo nội dung. Chỉ với vài dòng mô tả, người dùng có thể tạo ra hình ảnh, bài viết, bản nhạc hoặc kịch bản hoàn chỉnh trong thời gian ngắn.
Chỉ với một vài dòng mô tả, AI có thể tạo ra hình ảnh, bản nhạc, đoạn văn hay kịch bản hoàn chỉnh. Ảnh minh họa.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ này, một vấn đề pháp lý quan trọng được đặt ra: Nếu một tác phẩm được tạo ra bởi AI thì ai là chủ thể của quyền tác giả. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội về vấn đề này.
AI không phải là tác giả
- Thưa ông, pháp luật Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về việc xác định quyền tác giả đối với các tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra?
TS. Luật sư Đặng Văn Cường: Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Vấn đề cốt lõi ở đây là yếu tố “trực tiếp sáng tạo”, tức là hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người.
Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa công nhận trí tuệ nhân tạo hay hệ thống máy móc là chủ thể của quyền tác giả. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025, được Quốc hội thông qua ngày 9/9/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/4/2026, cũng tiếp tục khẳng định nguyên tắc này.
Luật quy định rõ: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh, thì những người đó là đồng tác giả. Người chỉ hỗ trợ, góp ý hoặc cung cấp tư liệu cho quá trình sáng tạo không được coi là tác giả hoặc đồng tác giả.
- Trong trường hợp tác phẩm được tạo ra hoàn toàn bởi hệ thống AI tự vận hành, con người không tham gia vào quá trình sáng tạo thì quyền tác giả sẽ được xác định ra sao?
TS. Luật sư Đặng Văn Cường: Nếu tác phẩm được tạo ra hoàn toàn tự động bởi hệ thống AI, không có cá nhân nào trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo nội dung cụ thể thì sản phẩm đó có thể không được bảo hộ quyền tác giả.
Trong trường hợp hệ thống AI tự vận hành, không có cá nhân can thiệp vào nội dung, còn người quản lý chỉ vận hành hoặc sở hữu công cụ thì người quản lý cũng không được coi là tác giả, bởi họ không có hành vi sáng tạo trực tiếp.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có cơ chế công nhận “tác giả là máy” hoặc “tác giả là hệ thống AI”. Vì vậy, những sản phẩm do AI tạo ra hoàn toàn tự động có thể rơi vào khoảng trống pháp lý về bảo hộ quyền tác giả.
AI chỉ được xem là công cụ hỗ trợ sáng tạo
- Vậy trong trường hợp con người sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ sáng tạo, thì quyền tác giả sẽ được xác định như thế nào?
TS. Luật sư Đặng Văn Cường: Nếu con người sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ sáng tạo, chẳng hạn như đưa ra ý tưởng, lựa chọn dữ liệu đầu vào, chỉnh sửa, biên tập và hoàn thiện nội dung, đồng thời kiểm soát cấu trúc và kết quả cuối cùng của tác phẩm thì phần sáng tạo của con người vẫn có thể được bảo hộ.
Trong trường hợp này, AI không hoạt động tự thân mà có sự quản lý và kiểm soát của con người, nên AI chỉ được xem như một công cụ hỗ trợ sáng tạo, tương tự như máy ảnh, phần mềm đồ họa hoặc nhạc cụ.
Ngoài ra, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 cũng đã bổ sung quy định cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm hoặc huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện việc sử dụng không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.
Xin cảm ơn ông đã chia sẻ!
Theo TS. Luật sư Đặng Văn Cường, trong bối cảnh AI phát triển mạnh mẽ, thời gian tới, pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện để làm rõ hơn cơ chế xác định quyền tác giả đối với các sản phẩm có sự tham gia của trí tuệ nhân tạo, đồng thời bảo đảm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hạn chế các tranh chấp có thể phát sinh.