Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Minh Triết, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh An Giang cho biết, tỉnh đang triển khai các giải pháp phát triển dịch vụ logistics theo định hướng kết nối sản xuất, thương mại biên giới và thị trường tiêu thụ. Trọng tâm là nâng cao năng lực hạ tầng, tổ chức chuỗi cung ứng và khai thác hiệu quả lợi thế kinh tế của địa phương.
Định hướng này được cụ thể hóa tại Kế hoạch số 421/KH-UBND ngày 31/7/2026 của UBND tỉnh An Giang về thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, logistics được xác định là lĩnh vực dịch vụ quan trọng, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa, thúc đẩy liên kết vùng và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Với thế mạnh về lúa gạo, cá tra và trái cây, An Giang sở hữu nguồn hàng lớn phục vụ chế biến, xuất khẩu. Tuy nhiên, lợi thế sản xuất chưa đồng nghĩa với lợi thế cạnh tranh khi chi phí vận chuyển, bảo quản và lưu kho vẫn là những yếu tố có thể làm gia tăng giá thành sản phẩm.
Đặc biệt, trong chuỗi cung ứng nông, thủy sản, giá trị hàng hóa không chỉ được quyết định ở khâu sản xuất mà còn phụ thuộc vào khả năng duy trì chất lượng, tối ưu thời gian giao hàng và kiểm soát chi phí logistics.
Một lô cá tra xuất khẩu phải trải qua nhiều công đoạn, từ thu mua tại ao nuôi, vận chuyển đến nhà máy, chế biến, cấp đông, lưu kho lạnh đến đưa hàng ra cảng. Chỉ một mắt xích vận hành thiếu đồng bộ cũng có thể kéo dài thời gian giao hàng, phát sinh chi phí và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Tương tự, với lúa gạo và trái cây, những hạn chế trong thu hoạch, sơ chế, phân loại, đóng gói và bảo quản sau thu hoạch có thể làm gia tăng hao hụt, giảm giá trị thương mại. Vì vậy, phát triển hệ thống kho lạnh chuyên dụng, kho bãi và dịch vụ logistics sau thu hoạch là yêu cầu cần được ưu tiên.
Bên cạnh đó, An Giang có lợi thế vận tải thủy nhờ hệ thống sông Tiền, sông Hậu. Nếu tổ chức tốt việc gom hàng, kết nối bến bãi và vận chuyển chặng cuối, địa phương có thể khai thác hiệu quả hơn phương thức vận tải này, nhất là đối với những lô hàng khối lượng lớn.
Đối với hàng hóa vận chuyển đến các cảng tại TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ hoặc qua cửa khẩu sang Campuchia, việc hình thành chuỗi logistics đồng bộ sẽ tạo điều kiện hạn chế khâu trung gian, giảm bốc dỡ không cần thiết và nâng tính chủ động trong giao nhận.
Hoạt động chế biến thủy sản tại An Giang, mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng từ vùng nguyên liệu đến thị trường xuất khẩu.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, một trong những yêu cầu quan trọng là tăng cường liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp logistics và cơ sở chế biến, xuất khẩu. Việc chia sẻ thông tin về mùa vụ, sản lượng, nhu cầu kho bãi và lịch vận chuyển sẽ giúp doanh nghiệp chủ động tổ chức dịch vụ, hạn chế tình trạng nguồn hàng phân tán.
Theo Kế hoạch số 421/KH-UBND, giai đoạn 2025 - 2035, An Giang đặt mục tiêu dịch vụ logistics đóng góp khoảng 3-4% GRDP, tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã sử dụng dịch vụ logistics đạt 50-60%. Khoảng 60% doanh nghiệp logistics được định hướng áp dụng các giải pháp số phù hợp. Cùng với đầu tư hạ tầng, tỉnh đặt mục tiêu khoảng 60% lao động ngành logistics được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, trong đó 20% có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên.
Những chỉ tiêu trên cho thấy, An Giang đang hướng tới phát triển logistics theo chiều sâu, gắn đầu tư hạ tầng với chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nhân lực. Tuy nhiên, thước đo quan trọng nhất không chỉ là quy mô dịch vụ được mở rộng, mà phải là khả năng giảm chi phí, hạn chế hao hụt và nâng giá trị hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Khi những điểm nghẽn từ vùng nguyên liệu đến thị trường được tháo gỡ, logistics mới thực sự trở thành đòn bẩy giúp nông sản, thủy sản An Giang gia tăng sức cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị xuất khẩu.
Vị trí địa lý tạo lợi thế nhưng chưa đủ để hình thành trung tâm logistics. Muốn trở thành đầu mối trung chuyển hàng hóa của Tây Nam Bộ, An Giang cần có nguồn hàng ổn định, hạ tầng kết nối thông suốt và hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Với mạng lưới đường thủy cùng các cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương, tỉnh có điều kiện kết nối thương mại với Campuchia và các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, để chuyển lợi thế này thành giá trị kinh tế, cần phát triển đồng bộ ba trụ cột: logistics nông nghiệp, logistics cửa khẩu và logistics xuất khẩu quốc tế.
Hoạt động vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu biên giới Việt Nam - Campuchia, góp phần thúc đẩy giao thương và phát triển dịch vụ logistics tại An Giang.
Trong đó, logistics nông nghiệp bảo đảm nguồn hàng; logistics cửa khẩu mở rộng giao thương; còn logistics xuất khẩu kết nối doanh nghiệp với hệ thống cảng biển và thị trường quốc tế. Sự liên thông giữa các trụ cột sẽ quyết định hiệu quả vận hành của toàn chuỗi.
Đáng chú ý, Quyết định số 1494/QĐ-UBND ngày 24/4/2026 của UBND tỉnh An Giang phê duyệt Đề án hoàn thiện và nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông, logistics, tạo thêm cơ sở định hướng đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế địa phương.
Một trong những công trình được kỳ vọng cải thiện khả năng kết nối là tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng. Khi hoàn thành và đưa vào khai thác, tuyến đường này sẽ góp phần kết nối vùng sản xuất, cửa khẩu với các hành lang giao thông liên vùng, tạo thuận lợi vận chuyển hàng hóa đến những đầu mối xuất khẩu. Về dài hạn, khả năng kết nối khu vực cảng Trần Đề theo quy hoạch, cùng các tuyến vận tải đến cụm cảng Cái Mép - Thị Vải, có thể mở rộng lựa chọn logistics cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, giao thông thuận lợi mới chỉ là điều kiện ban đầu. Một trung tâm logistics muốn hoạt động hiệu quả phải cung cấp được dịch vụ tích hợp, từ gom hàng, lưu kho, bảo quản lạnh đến phân phối, vận tải đa phương thức và hỗ trợ thủ tục xuất nhập khẩu.
Theo Kế hoạch số 421/KH-UBND, giai đoạn 2025 - 2035, An Giang định hướng phát triển 1-2 trung tâm logistics hiện đại gắn với khu kinh tế cửa khẩu và những địa bàn tập trung sản xuất, tiêu thụ nông sản.
Tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh đặt mục tiêu phát triển 3-5 trung tâm logistics hiện đại; nâng tỷ trọng dịch vụ này lên khoảng 4-5% GRDP, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics đạt 70-80%. Đây là những mục tiêu dài hạn, đòi hỏi việc lựa chọn địa điểm đầu tư dựa trên mật độ nguồn hàng, nhu cầu thị trường và năng lực kết nối thực tế.
Hạ tầng giao thông liên vùng được đầu tư đồng bộ, tạo động lực kết nối các vùng sản xuất, cửa khẩu và trung tâm logistics, thúc đẩy lưu thông hàng hóa tại An Giang.
Nếu chỉ chú trọng xây dựng kho bãi mà thiếu doanh nghiệp sử dụng, nguy cơ công trình hoạt động dưới công suất là điều cần tính đến. Ngược lại, khi có nguồn hàng ổn định và dịch vụ đủ sức cạnh tranh, khu vực tư nhân sẽ có thêm động lực đầu tư vào kho lạnh, bến thủy nội địa và hạ tầng vận tải.
Theo ông Nguyễn Minh Triết, phát triển logistics được đặt trong định hướng nâng cao năng lực kết nối và thúc đẩy hoạt động thương mại của tỉnh.
Để hiện thực hóa định hướng này, địa phương cần ưu tiên dự án có khả năng khai thác thực chất, gắn quy hoạch đất đai với cửa khẩu, giao thông và vùng sản xuất. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng, cải thiện thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động vận chuyển và xuất nhập khẩu.
Thành công của chiến lược logistics An Giang vì thế không nằm ở số trung tâm được xây dựng, mà ở khả năng đưa hàng hóa từ vùng nguyên liệu đến thị trường nhanh hơn, chi phí hợp lý hơn và giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi logistics xanh đòi hỏi doanh nghiệp kiểm soát mức tiêu thụ nhiên liệu, điện năng và lượng phát thải CO₂ trong từng công đoạn vận chuyển, bảo quản hàng hóa. Các giải pháp trọng tâm gồm sử dụng phương tiện ít phát thải, kho lạnh tiết kiệm điện, phần mềm tối ưu tuyến giao nhận và bao bì tái sử dụng. Việc đo lường, kiểm chứng dữ liệu môi trường giúp doanh nghiệp nâng sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường xuất khẩu.