Đóng

Bài 5: Điểm tựa, cửa sổ vàng và khát vọng 28% GDP

Không một nền kinh tế nào leo lên đỉnh chuỗi giá trị mà thiếu bàn tay kiến tạo bền bỉ của Nhà nước, cũng không nước nào thắng bằng dàn trải. Hai mươi nền công nghiệp đi trước để lại bài học gì và Quốc hội phải làm gì để mạch chủ trương từ Đại hội XIV trở thành thể chế có hiệu lực, giữ cho "cửa sổ vàng" của giai đoạn 2026 - 2030 không khép lại?

Sáng 15/6/2026, tại Hội thảo "Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới" do Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức, dưới sự chỉ đạo của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, một mệnh đề gốc được nhắc đi nhắc lại trong báo cáo đề dẫn và phần lớn trong 36 tham luận: Quốc gia nào làm chủ vật liệu lõi sẽ làm chủ công nghệ lõi.

Đề dẫn không trải ra một danh sách dàn đều mọi lĩnh vực, mà chỉ rõ sáu nhóm vật liệu chiến lược ưu tiên cùng một danh mục sản phẩm cơ khí trọng điểm. Cách đặt vấn đề ấy không ngẫu nhiên. Nó là kết tinh của việc soi vào con đường mà các nền công nghiệp đi trước đã đi và là điểm khởi đầu để loạt bài này khép lại bằng câu hỏi lớn nhất: Thể chế hóa thế nào để khát vọng trở thành hiện thực?

Bởi nếu rọi đèn vào hai mươi nền kinh tế từng leo lên hoặc đang cố leo lên đỉnh chuỗi giá trị vật liệu và chế tạo, một quy luật hiện ra rõ đến mức gần như không có ngoại lệ. Không một nước nào lên được đỉnh mà thiếu bàn tay nhà nước kiến tạo bền bỉ qua nhiều thập niên. Và cũng không một nước nào thành công bằng cách rải lực ra mọi mặt trận. Mọi mô hình thắng đều làm chung một việc: chọn lấy một điểm tựa rồi dồn toàn lực vào đó. Đọc lại các con đường ấy không phải để bắt chước, mà để Việt Nam soi mình và chọn cho đúng chỗ đặt chân.

Điều đầu tiên đập vào mắt khi xếp các cường quốc vật liệu và chế tạo cạnh nhau là họ không đi chung một lối. Mỗi nước tìm ra một điểm tựa riêng, hợp với thế mạnh  của mình, rồi kiên trì theo đuổi.

Hàn Quốc chọn con đường quán quân quốc gia. Nhà nước, từ cấp Tổng thống, đứng sau dựng nên những tập đoàn đầu tàu rồi giao cho họ sứ mệnh quốc gia. POSCO (Pohang Iron and Steel Company) là tập đoàn đa quốc gia hàng đầu Hàn Quốc có trụ sở tại Pohang, chuyên sản xuất thép, vật liệu năng lượng tái tạo và phát triển cơ sở hạ tầng ra đời từ vốn và quyết tâm chính trị, lập trung tâm nghiên cứu từ năm 1977, tự chủ công nghệ luyện kim rồi trở thành nước xuất khẩu chính công nghệ ấy. Từ một quốc gia nghèo, Hàn Quốc đã dồn lực bảo trợ cho POSCO để biến nó thành biểu tượng sống động nhất của mô hình quán quân quốc gia.

Nhật Bản chọn con đường thống lĩnh lớp vật liệu thượng nguồn ẩn. Người tiêu dùng không bao giờ nhìn thấy nó, nhưng ai nắm nó thì nắm quyền lực cả chuỗi. Công ty TNHH Hóa chất Shin-Etsu - công ty hóa chất lớn nhất Nhật Bản và Tập đoàn SUMCO - một công ty bán dẫn của Nhật Bản cùng nắm 60% nguồn cung tấm bán dẫn silicon toàn cầu; riêng loại hóa chất cảm quang dùng cho chip dưới 7 nanomet, Nhật cung tới 100%. Triết lý monozukuri - tức nghệ thuật làm ra sản phẩm tới mức tinh xảo, là nền cho năng lực đó.

Rất nhiều quốc gia muốn có được cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ thành công như mô hình Mittelstand của nước Đức.

Đức chọn con đường thứ ba, một con đường chứng minh rằng không cần to mới mạnh. Xương sống công nghiệp Đức là hệ Mittelstand, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 99% tổng số doanh nghiệp, trong đó nổi lên lớp hidden champions, những nhà vô địch ẩn thống lĩnh một thị trường ngách hẹp trên toàn cầu. Đứng sau lớp doanh nghiệp ấy là hệ đào tạo nghề kép trứ danh, vừa học ở trường vừa làm ở xưởng.

Đài Loan (Trung Quốc) chọn con đường viện công nghệ làm vườn ươm. Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp, gọi tắt là ITRI, lập năm 1973, được nhà nước cấp vốn mồi để nghiên cứu rồi tách doanh nghiệp ra thị trường. Từ chiếc nôi ấy bước ra trên 240 doanh nghiệp con, trong đó có TSMC và UMC, hai trụ cột biến hòn đảo thiếu tài nguyên thành cường quốc bán dẫn. Đây là lời giải cho khâu yếu kinh niên của nhiều nước, là khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và nhà máy.

Trung Quốc chọn con đường nội địa hóa lượng hóa được. Chương trình Made in China 2025 không hô khẩu hiệu chung chung mà đặt một con số cụ thể: tự cung 70% linh kiện lõi và vật liệu quan trọng. Kiên trì hỗ trợ suốt một thập niên, Trung Quốc nay tinh luyện khoảng 90% đất hiếm và 94% nam châm thiêu kết toàn cầu, sản xuất 53% sản lượng thép thô của thế giới.

Năm con đường, năm "công thức" khác nhau, nhưng chung một mẫu số. Nhà nước không buông tay cho thị trường tự lo, cũng không ôm làm thay doanh nghiệp. Nhà nước chọn điểm tựa, tạo điều kiện về vốn mồi, đào tạo, hạ tầng và đơn đặt hàng, rồi để doanh nghiệp chuyên sâu và vươn ra thế giới.

Các tấm gương kể trên không phải để chiêm ngưỡng một chiều. Điều quý hơn cho một nước đi sau như Việt Nam là chỗ các nền công nghiệp hàng đầu đã trượt chân, bởi đó là những cái bẫy có thể né. Chính các hãng chip Nhật từng ôm trọn cả chuỗi từ thiết kế, chế tạo tới bán hàng nên dần mất vị thế chip vào tay Hàn Quốc và Đài Loan: ôm tất cả thì có khi mất tất cả.

Ngành cơ khí Đức, mạnh nhất nhì thế giới, năm 2024 phát tín hiệu "lụi tàn thầm lặng" do chậm chuyển đổi số và chi phí năng lượng leo thang: ngay cả nền móng vững nhất cũng rạn nếu đứng yên. Trung Quốc, kẻ thống trị, trả giá bằng dư thừa công suất và hàng rào thương mại quốc tế: dồn lực là đúng, nhưng dồn quá đà tới mức thừa mứa lại sinh ra rủi ro mới.

Nhưng nhóm đáng học sát sườn nhất với Việt Nam không phải năm cường quốc trên, mà là các nước đi sau, có xuất phát điểm và lợi thế gần Việt Nam. Indonesia, nước cung nickel lớn nhất thế giới, cấm xuất khẩu quặng thô để ép cả chuỗi luyện về trong nước, nâng mạnh kim ngạch; nhưng giới phân tích chỉ ra phần lớn mức tăng đến từ sản lượng và giá lên cao chứ chưa hẳn từ giá trị gia tăng công nghệ thực sự.

Việt Nam có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm phát triển công nghiệp cơ khí, công nghiệp vật liệu của các quốc gia đi trước.

Thái Lan tận dụng nền cơ khí ô tô cũ, dùng chính sách và ưu đãi có thời hạn để biến mình thành cứ điểm xe điện khu vực: nền công nghiệp hỗ trợ sẵn có là bệ phóng nếu biết gắn vào quỹ đạo công nghệ mới. Malaysia không cam chịu mắc kẹt ở khâu đóng gói, kiểm thử bán dẫn giá trị thấp, ban hành chiến lược leo lên khâu thiết kế và chế tạo tấm bán dẫn.

Thổ Nhĩ Kỳ dùng đơn đặt hàng quốc phòng kéo nội địa hóa từ phụ thuộc nhập khẩu xuống còn 20 đến 30%, nhưng dự án xe điện TOGG lại dính bẫy quy mô dưới điểm hòa vốn. Ấn Độ ôm tham vọng tự chủ lớn nhưng bỏ quên tầng máy công cụ, để rơi vào cảnh "lắp ráp ở Ấn nhưng linh kiện vẫn từ Trung Quốc".

Đọc các vết vấp cạnh nhau, hiện ra năm cái bẫy cần né: bẫy ôm trọn chuỗi rồi mất tất cả kiểu chip Nhật; bẫy quy mô nhỏ dưới điểm hòa vốn kiểu TOGG; bẫy ảo giác giá trị gia tăng khi tăng trưởng chủ yếu do giá và sản lượng kiểu nickel Indonesia; bẫy lụi tàn thầm lặng do chậm số hóa và năng lượng đắt kiểu cơ khí Đức; và bẫy mắc kẹt ở khâu lắp ráp gia công kiểu Ấn Độ. Phải dồn lực để bứt phá, nhưng phải biết điểm dừng để không sa vào dư thừa và phụ thuộc.

Có một bối cảnh lớn khiến những bài học trên trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sau ba thập niên bị xem là lỗi thời, chính sách công nghiệp đã trở lại vị trí trung tâm trên toàn cầu. Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc, trong Báo cáo Phát triển công nghiệp 2024, gọi thẳng đây là "kỷ nguyên mới của chính sách công nghiệp". Trên thực tế, mọi cường quốc đều đang trợ cấp và bảo hộ có chọn lọc: Hoa Kỳ tung Đạo luật Chip 52,7 tỷ USD và Đạo luật Giảm lạm phát 369 tỷ USD; Hàn Quốc có chiến lược bán dẫn 450 tỷ USD tới 2030.

Đáng chú ý nhất là xu thế chuyển từ tư duy ngành đơn lẻ sang tư duy chuỗi cung và đạo luật khung tích hợp. Liên minh châu Âu gộp ba đạo luật về nguyên liệu thô thiết yếu, công nghiệp không phát thải và bán dẫn thành một hệ.

Riêng Đạo luật Nguyên liệu thô thiết yếu năm 2024 đặt mục tiêu lượng hóa rất cụ thể cho mốc 2030: khai thác nội khối ít nhất 10%, chế biến ít nhất 40%, tái chế ít nhất 25% và không một nước thứ ba nào được cung quá 65% một nguyên liệu chiến lược. Ngưỡng 65% ấy là một thiết kế chính sách tinh tế nhằm chống lệ thuộc vào một nguồn duy nhất.

Ở chiều ngược lại, Hoa Kỳ cho một bài học từ sai lầm: từng ban hành đạo luật hỗ trợ bán dẫn mà bỏ trống mắt xích vật liệu đầu vào, rồi tháng 7/2025 phải bỏ 400 triệu USD mua cổ phần, trở thành cổ đông lớn nhất của hãng đất hiếm MP Materials để vá lỗ hổng, với mục tiêu loại đất hiếm Trung Quốc khỏi chuỗi quốc phòng tới năm 2027.

Đặt tất cả những con đường ấy cạnh nhau, Việt Nam rút ra một nguyên tắc bao trùm đã được báo cáo đề dẫn tại hội thảo Quốc hội chọn làm trục: chọn điểm tựa rồi dồn lực, tuyệt đối tránh dàn trải.

Đề dẫn trong hội thảo đã nêu sáu nhóm vật liệu chiến lược ưu tiên, gồm vật liệu bán dẫn và điện tử, vật liệu cho trí tuệ nhân tạo và robot, vật liệu năng lượng mới, vật liệu cho điện hạt nhân, vật liệu cho đường sắt tốc độ cao và vật liệu quốc phòng, cùng một danh mục sản phẩm cơ khí trọng điểm. Đây chính là tinh thần "chọn rồi dồn" mà Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Đài Loan (Trung Quốc) đã chứng minh, được Việt Nam hóa thành một danh mục cụ thể.

Tinh thần học hỏi ấy không hề mâu thuẫn với độc lập tự chủ. Trái lại, nó là một biểu hiện hiện đại của chính nguyên tắc tự chủ. Phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn đoàn cán bộ năm 1946 đặt ra cách tiếp cận đó: cái bất biến là độc lập, là tự chủ, là làm chủ cho được phần lõi giá trị; cái vạn biến là phương tiện, là con đường, là cách làm có thể học của thiên hạ và uốn theo thời thế.

Học cách Hàn Quốc dựng quán quân, học cách Đài Loan lập viện ươm, học cách châu Âu đặt ngưỡng đa dạng hóa nguồn cung, tất cả đều là cái vạn biến phục vụ cho cái bất biến là một nền công nghiệp đứng vững trên đôi chân người Việt.

Công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng.

Từ kinh nghiệm thành công của các nước đi trước, Việt Nam có thể rút ra những bài học:

Một là giành cho được các mắt xích thượng nguồn ẩn, nơi quyền lực chuỗi và biên giá trị thật sự nằm: tinh luyện đất hiếm, sản xuất nam châm vĩnh cửu, thép hợp kim đặc chủng và một số linh kiện cơ khí chính xác.

Hai là lấy đơn đặt hàng quốc gia làm bệ phóng, gắn các đại dự án đường sắt tốc độ cao, năng lượng, quốc phòng với cơ chế đặt hàng, ưu đãi nội địa hóa và yêu cầu chuyển giao công nghệ, đúng cách Thổ Nhĩ Kỳ và Thái Lan đã làm, nhưng phải né bẫy quy mô của TOGG.

Ba là xây một thiết chế kiểu ITRI của Việt Nam, một viện công nghệ ứng dụng cấp vốn mồi và ươm tạo doanh nghiệp, có thể nâng cấp từ các viện nghiên cứu cơ khí và vật liệu hiện có.

Bốn là kết hợp cả hai con đường tổ chức lực lượng: vừa chọn một số quán quân quốc gia trong vật liệu nền và cơ khí trọng điểm, vừa nuôi một hệ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyên sâu theo mô hình hidden champions của Đức, gắn với đào tạo nghề kép.

Năm điểm tựa ấy chỉ trở thành hiện thực nếu có một bộ khung thể chế đủ mạnh đỡ phía sau. Và đây chính là chỗ giai đoạn nửa đầu năm 2026 hiện ra như một cửa sổ vàng, khi ba điều kiện hiếm có cùng hội tụ: quyết tâm chính trị ở cấp cao nhất, bộ công cụ thể chế đang được xây dựng đồng bộ, và một dung lượng thị trường khổng lồ từ các đại dự án quốc gia.

Chỉ trong một quý đầu năm 2026, một mạch chủ trương xuyên suốt từ Đảng đến Chính phủ đã được khơi thông. Nghị quyết Đại hội XIV tháng 1/2026 xác lập mô hình công nghiệp tự lực, tự chủ, đặt mục tiêu công nghiệp chế biến chế tạo đạt khoảng 28% GDP vào năm 2030, từ mức khoảng 24,7% hiện nay.

Đến tháng 5/2026, tại Thông báo số 66-TB/VPTW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, chỉ rõ ba nhóm vật liệu và nêu quan điểm "ba không": không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường. Song song đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết 82/NQ-CP ngày 3/4/2026 thông qua chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm; Bộ Công Thương lập Tổ soạn thảo theo Quyết định 968/QĐ-BCT ngày 22/4/2026.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định đến năm 2030 tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP cả nước.

Mạch chủ trương ấy đặt lên vai Quốc hội vai trò trung tâm của khâu thể chế hóa, dựng nên hai mái nhà cho cả ngành.

Mái nhà thứ nhất là Luật Công nghiệp trọng điểm, đạo luật khung tạo nền tảng pháp lý chung cho cả vật liệu, cơ khí, bán dẫn và năng lượng. Lý do phải cần một bộ luật riêng nằm ở điểm nghẽn thể chế phân tán: trước đây thép có chiến lược riêng, bán dẫn có chương trình riêng, còn máy công cụ, vốn là máy cái của mọi ngành chế tạo, lại gần như trắng chính sách.

Mái nhà thứ hai là Chiến lược công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn 2045, cụ thể hóa danh mục sản phẩm và mục tiêu định lượng, phân định ba nhóm vật liệu để ứng xử: nhóm cơ bản duy trì và nâng cấp, nhóm chiến lược dồn lực tạo đột phá, nhóm tương lai ưu tiên nghiên cứu sớm.

Việc gộp vật liệu với cơ khí vào một khung pháp lý là bước chuyển từ tư duy ngành đơn lẻ sang tư duy chuỗi cung tích hợp, đúng hướng đi của Liên minh châu Âu và tránh đúng sai lầm tốn kém mà Hoa Kỳ từng vấp khi tách rời vật liệu khỏi công nghệ bán dẫn.

Dự án Luật Công nghiệp trọng điểm và Chiến lược công nghiệp vật liệu được coi là "hai mái nhà" để Quốc hội hiện thực hóa tầm nhìn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển công nghiệp vật liệu, công nghiệp cơ khí.

Luật mới được kỳ vọng giải quyết sáu điểm nghẽn chủ yếu: nhận thức vai trò chưa tương xứng, thể chế phân tán, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt, thiếu nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học rời rạc và thiếu một chiến lược quốc gia tổng thể.

Để biến các đại dự án thành đơn hàng thực tế, đề xuất ban hành một Nghị quyết của Quốc hội về cơ khí trọng điểm cho giai đoạn 2026 đến 2045 đang được đặt ra, nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn: năng lực yếu vì thiếu cơ hội và thiếu cơ hội vì năng lực yếu. Đi cùng vai trò lập pháp là vai trò giám sát thực thi, để chủ trương không dừng ở văn bản mà thấm vào từng dự án, từng mắt xích.

Bài toán không hề dễ. Từ năm 2027, thép Việt Nam sẽ chịu Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới CBAM của Liên minh châu Âu, các lò cao truyền thống phát thải cao sẽ mất dần lợi thế nếu không chuyển đổi xanh.

Thành tích sản lượng thép là thật, nhưng vẫn dựa trên nền nguyên liệu nhập khẩu khiến giá trị gia tăng nội địa mỏng đi và dễ tổn thương. Riêng với đất hiếm, nghịch lý còn lớn hơn: giàu trên giấy với trữ lượng lớn nhưng năng lực chế biến sâu còn hạn chế, vẫn phải xuất thô và nhập tinh. Cân bằng cán cân xuất nhập khẩu chưa đồng nghĩa với tự chủ khi khối FDI vẫn chi phối phần lớn giá trị xuất khẩu cơ khí và công nghệ lõi vẫn phải nhập.

Loạt bài này của Báo Công Thương đã đi qua câu chuyện của những quán quân và những nghịch lý ngay trên đất Việt, qua thép cuộn cán nóng và thanh ray nội địa, qua đất hiếm và máy cái, qua đơn đặt hàng quốc gia. Tất cả quy về một sợi chỉ đỏ duy nhất, được tham luận của Bộ Khoa học và Công nghệ đúc kết gọn: muốn tự chủ công nghệ thì phải tự chủ vật liệu.

Trong thế kỷ XXI, cạnh tranh giữa các quốc gia trước hết là cạnh tranh về khoa học, công nghệ, vật liệu chiến lược và năng lực chế tạo. Vì vậy, phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo cần được xác định là một nhiệm vụ chiến lược quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định đến năm 2030 tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP cả nước. Mục tiêu này thể hiện quyết tâm giữ vững vai trò trụ cột của công nghiệp trong nền kinh tế. 

Đến thời điểm hiện nay, cửa sổ chính sách đang mở rộng nhất nhiều năm. Nhưng rủi ro lớn nhất là để nó khép lại mà chưa kịp biến chủ trương thành thể chế có hiệu lực, hoặc lại rơi vào nếp làm việc dàn trải cũ. Giai đoạn 2026 - 2030 chỉ còn khoảng 1.500 ngày. Đó là một cuộc đua với thời gian, mà mỗi ngày trôi qua không gỡ được một điểm nghẽn là một ngày cửa sổ hẹp lại.

Hai mươi nền công nghiệp đi trước, mỗi nền một con đường, để lại cùng một thông điệp: đỉnh chuỗi giá trị chỉ dành cho nước biết chọn đúng vài điểm tựa hợp với tạng mình, rồi dồn lực bền bỉ, vừa học khôn của thiên hạ vừa giữ cho được quyền tự chủ.

Việc còn lại nằm phần lớn trong tay cơ quan lập pháp cao nhất. Quốc hội thể chế hóa tầm nhìn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dựng cho được "hai mái nhà" Luật Công nghiệp trọng điểm và Chiến lược công nghiệp vật liệu, ban hành nghị quyết chuyên đề và giám sát thực thi tới cùng, chính là cách mở rộng và giữ cho "cửa sổ vàng" không khép lại.

Một thanh ray nội địa đạt chuẩn, một mẻ thép mang nhãn hiệu Việt Nam, một mẻ đất hiếm tinh luyện trên đất nước mình... đó sẽ là những viên gạch đầu tiên của một pháo đài tự chủ mà cả dân tộc đang chờ đợi.

Lâm Vỹ Sơn - Hoàng Hòa - Giang Nam - Hương Giang