Đóng

Bảo đảm quyền con người ở Việt Nam: Nhìn từ những thành tựu nổi bật

Quyền con người không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và các cam kết quốc tế, mà còn được kiểm chứng bằng chất lượng sống, cơ hội phát triển của người dân...

Nền tảng pháp lý vững chắc

Quyền con người là một giá trị phổ quát của nhân loại, tiêu chí quan trọng phản ánh trình độ phát triển, chất lượng quản trị và trách nhiệm của mỗi quốc gia đối với người dân. Tại Việt Nam, quyền con người luôn được đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Con người được xác định là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng.

Nền tảng pháp lý cho việc bảo đảm quyền con người tiếp tục được củng cố.

Đánh giá tình hình quyền con người ở Việt Nam không thể chỉ dừng ở những nhận xét khái quát, mà cần nhìn vào chất lượng thể chế, mức độ hoàn thiện của pháp luật, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, an sinh xã hội, thông tin, tín ngưỡng, tôn giáo và mức độ người dân được tham gia vào quá trình quản lý nhà nước và xã hội.

Bên cạnh đó, nền tảng pháp lý cho việc bảo đảm quyền con người tiếp tục được củng cố. Hiến pháp năm 2013 dành toàn bộ Chương II với 36 Điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều 14 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Ngoài ra, nhiều văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành để cụ thể hóa các quyền hiến định, trong đó có Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trẻ em, Bộ luật Lao động và các quy định liên quan đến bình đẳng, chống phân biệt đối xử, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương.

Ý nghĩa của những quy định này không chỉ nằm ở việc quyền con người được ghi nhận trên phương diện pháp lý, mà quan trọng hơn là tạo nền tảng để tổ chức hệ thống thiết chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao; Chính phủ tổ chức thi hành pháp luật và triển khai các chương trình về giảm nghèo, bảo vệ trẻ em, chuyển đổi số, phát triển bền vững. Hệ thống tòa án, viện kiểm sát, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Công tác phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý, nhất là đối với các nhóm yếu thế, tiếp tục được chú trọng, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật và tự bảo vệ quyền của mỗi người.

Việt Nam cũng tham gia từ khá sớm nhiều công ước quốc tế cốt lõi về quyền con người. Đến nay, Việt Nam là thành viên của 7 trong số 9 công ước cốt lõi của Liên hợp quốc về quyền con người và 7 trong số 8 công ước cốt lõi của Tổ chức Lao động quốc tế về quyền của người lao động; đồng thời tham gia đầy đủ các chu kỳ Rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người. Tại chu kỳ lần thứ tư, Việt Nam chấp thuận 271 trong số 320 khuyến nghị của 133 quốc gia, đạt tỷ lệ gần 85%. Đáng chú ý, Việt Nam chủ động xây dựng báo cáo quốc gia, đối thoại và tiếp thu những khuyến nghị phù hợp để tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người.

Bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân

Nếu chỉ nhìn quyền con người trong phạm vi các quyền dân sự và chính trị thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của vấn đề, bởi quyền được học tập, chăm sóc sức khỏe, có việc làm, có nhà ở, được hưởng an sinh xã hội và có cơ hội nâng cao mức sống cũng là những quyền căn bản. Ở góc độ này, phát triển kinh tế không đứng ngoài câu chuyện quyền con người, mà là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội và để mỗi người dân mở rộng cơ hội phát triển của mình.

Thành tựu nổi bật về quyền con người trước hết được thể hiện trong sự cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Việt Nam đã từng bước vượt qua tình trạng đói nghèo, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, thông tin và các dịch vụ xã hội. Các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội, chăm lo người có công, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương ngày càng được hoàn thiện. Những chỉ số về phát triển con người, bình đẳng giới, hạnh phúc và phát triển bền vững tiếp tục có chuyển biến tích cực.

Giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng kinh tế Việt Nam bình quân khoảng 6,2%; riêng năm 2025 đạt 8,02%. Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên khoảng 514 tỷ USD năm 2025. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, xuất siêu trên 20 tỷ USD. Từ đầu năm đến nay, kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi, sản xuất công nghiệp tăng trưởng, đầu tư công và đầu tư nước ngoài khởi sắc, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Những kết quả này tạo thêm nguồn lực để thực hiện các chính sách xã hội, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản và nâng cao chất lượng sống.

Tuy nhiên, ý nghĩa của tăng trưởng không chỉ nằm ở các chỉ tiêu vĩ mô, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa nguồn lực phát triển thành những thay đổi cụ thể trong đời sống xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn quốc giảm từ 4,2% năm 2020 xuống còn 1,3% năm 2025. Việt Nam cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên đạt trên 3,5 triệu người.

Trong lĩnh vực y tế, đến năm 2025, số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,46 triệu người, tương đương 95,2% dân số. 100% hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được Nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế; tuổi thọ trung bình đạt 74,8 tuổi. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức khoảng 2,22%.

Các chỉ số phát triển con người tiếp tục phản ánh xu hướng đó. Báo cáo Phát triển con người năm 2025 ghi nhận Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam đạt 0,766 điểm, tăng từ vị trí 107 lên 93/193 quốc gia và tiếp tục nằm trong nhóm nước có mức phát triển con người cao. Chỉ số bình đẳng giới năm 2025 xếp thứ 74/148 quốc gia, tăng 13 bậc so với năm 2021; Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 xếp Việt Nam thứ 46/143 quốc gia; Chỉ số phát triển bền vững đứng thứ 61/167 quốc gia. Điều cần nhấn mạnh là những chỉ số này chỉ có ý nghĩa khi được đặt cạnh những thay đổi cụ thể trong đời sống, bởi nhân quyền trước hết phải được đo bằng điều kiện sống và cơ hội phát triển thực tế của con người.

Sự ghi nhận từ cộng đồng quốc tế

Ngày 14/10/2025, Việt Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026 - 2028. Đây là lần thứ ba Việt Nam đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Kết quả bầu cử, với 180 phiếu ủng hộ theo thông tin được công bố, phản ánh sự tín nhiệm quốc tế đối với vai trò, trách nhiệm và những đóng góp của Việt Nam trong các cơ chế đa phương về quyền con người.

Đoàn công tác Việt Nam tham dự cuộc bỏ phiếu  bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026-2028.

Nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam tham gia thúc đẩy nhiều sáng kiến liên quan đến biến đổi khí hậu và quyền con người, quyền tiếp cận vaccine, bình đẳng giới, bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, chống bạo lực và phân biệt đối xử, tích hợp giáo dục quyền con người vào hệ thống giáo dục. Việt Nam đồng thời thực hiện nghĩa vụ theo các điều ước quốc tế, hoàn thành chu kỳ Rà soát định kỳ phổ quát, đối thoại với các ủy ban công ước và đón các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc vào thăm, làm việc.

Trả lời phỏng vấn sau khi Việt Nam tái đắc cử thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026 - 2028, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh, đây là sự ghi nhận và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực của Việt Nam đóng góp vào công việc chung của Liên hợp quốc, trong đó có trụ cột bảo đảm quyền con người. Sự ghi nhận đó là một dữ kiện cần được đặt trong tổng thể quá trình Việt Nam tham gia các cơ chế quốc tế, thực hiện nghĩa vụ, đối thoại và tiếp tục hoàn thiện chính sách trong lĩnh vực này.

Dù vậy, thành tựu đã đạt được không phải là lý do để tự bằng lòng. Đời sống càng được nâng lên, yêu cầu của người dân đối với chất lượng giáo dục, y tế, môi trường sống, dịch vụ công và khả năng tham gia vào đời sống xã hội càng cao. Chuyển đổi số mở thêm không gian tiếp cận thông tin và dịch vụ nhưng cũng đặt ra yêu cầu mới về quyền lợi trong môi trường số, an toàn dữ liệu và khả năng tiếp cận công nghệ. Khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, yêu cầu chăm lo nhóm yếu thế và khả năng ứng phó với những rủi ro xã hội mới tiếp tục là những vấn đề cần được giải quyết trong tiến trình phát triển.

Bảo đảm quyền con người vì thế không thể tách rời chất lượng phát triển. Tăng trưởng kinh tế nếu không cải thiện đời sống thì chưa đủ; pháp luật nếu không đi vào thực tế thì chưa đủ; chuyển đổi số nếu người dân chưa được tiếp cận bình đẳng thì chưa đủ; chính sách an sinh nếu chưa đến đúng nhóm cần hỗ trợ thì chưa đủ. Nhân quyền, xét đến cùng, phải được đo bằng cuộc sống của con người. Khi người dân được sống trong hòa bình, được học tập, lao động, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận thông tin, thực hành tín ngưỡng, tham gia đời sống xã hội và được pháp luật bảo vệ, những quyền ấy mới hiện hữu bằng thực tiễn, thay vì chỉ dừng lại trên văn bản.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: “Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”.

Hà Trang