Đóng

Biến lợi thế hàng hải thành sức mạnh kinh tế

Việt Nam có lợi thế địa lý chiến lược trên tuyến hàng hải quốc tế, song để tạo giá trị thực chất cần nâng cao năng lực thương mại, logistics...

Việt Nam đang sở hữu lợi thế địa lý hiếm có khi nằm trên tuyến hàng hải quốc tế sôi động bậc nhất thế giới. Tuy nhiên, lợi thế vị trí chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực thương mại và logistics.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VIETGO đã phân tích những "khoảng trống" cần khắc phục và các giải pháp để biến lợi thế địa lý thành sức mạnh kinh tế trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển.

Ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VIETGO

Lợi thế "đại lộ hàng hải"

- Việt Nam được ví như đang đứng trên "đại lộ" hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới. Theo ông, nếu quy đổi lợi thế này ra giá trị kinh tế, Việt Nam đang hưởng lợi thế nào từ vị trí đó?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Việc sở hữu một "ngôi nhà mặt tiền" trên tuyến hàng hải sôi động nhất thế giới chưa đồng nghĩa với việc tự động tạo ra giá trị kinh tế lớn. Vị trí địa lý mang lại lợi thế ban đầu về khả năng tiếp cận thị trường và kết nối giao thương. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh, yếu tố quyết định vẫn là năng lực sản xuất, chất lượng hàng hóa và khả năng tổ chức thị trường. 

Bên cạnh lợi thế về vị trí, Việt Nam còn hội tụ nhiều điều kiện chiến lược khác. Nổi bật là mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia, với phạm vi và mức độ bao phủ được đánh giá thuộc nhóm hàng đầu thế giới. Đây là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, tận dụng ưu đãi thuế quan và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngoài ra, môi trường chính trị ổn định cùng định hướng hội nhập kinh tế quốc tế nhất quán đã tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư và đối tác thương mại. Chính sách mở cửa, chủ động hợp tác với các nền kinh tế trên thế giới góp phần củng cố vị thế của Việt Nam như một điểm đến đáng tin cậy trong thương mại và đầu tư quốc tế.

Thực tiễn cho thấy, dù quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra muộn hơn so với nhiều quốc gia, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì ở mức cao trong nhiều năm. Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 18%, tiếp tục khẳng định đà phát triển tích cực của nền kinh tế.

Nhờ kết quả này, Việt Nam đã vươn lên nhóm các quốc gia có quy mô thương mại lớn trên thế giới, đứng thứ 15 toàn cầu về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Đáng chú ý, khoảng cách với Ấn Độ, quốc gia có quy mô dân số khoảng 1,45 tỷ người và giữ vị trí thứ 14 trong cùng năm, đang được thu hẹp nhanh chóng. Điều này phản ánh tốc độ phát triển thương mại của Việt Nam ở mức cao, đồng thời cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn rất lớn trong giai đoạn tới.

Bài toán nâng cao năng lực thương mại

- Nhiều quốc gia đã trở thành trung tâm trung chuyển và logistics hàng đầu, đơn cử như Trung Quốc hay Singapore. Vậy điểm khác biệt cốt lõi khiến Việt Nam chưa làm được điều tương tự là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Mỗi quốc gia đều xây dựng một chiến lược phát triển dựa trên lợi thế riêng của mình và đó là điều Việt Nam có thể tham khảo khi hoạch định con đường đi phù hợp.

Chẳng hạn, Singapore lựa chọn mô hình có thể gọi là "trạm trung chuyển" của thương mại toàn cầu. Quốc gia này nằm tại vị trí chiến lược ở eo biển Malacca, lưu lượng tàu thuyền quốc tế rất lớn. Do hạn chế về diện tích và nguồn lực sản xuất, Singapore tập trung gần như toàn bộ nguồn lực vào phát triển hệ thống cảng biển, dịch vụ logistics và hoạt động thương mại.

Họ xây dựng một nền kinh tế dựa nhiều vào năng lực trung chuyển và năng lực bán hàng trên thị trường quốc tế. Dù quy mô dân số chỉ khoảng 5 triệu người, Singapore vẫn duy trì vị trí cao trong bảng xếp hạng thương mại toàn cầu, nhờ hệ thống doanh nghiệp thương mại phát triển mạnh và chuyên nghiệp.

Trong khi đó, Trung Quốc lựa chọn con đường khác. Quốc gia này phát triển theo mô hình "công xưởng", tận dụng lợi thế về quy mô dân số lớn và thị trường nội địa rộng để xây dựng năng lực sản xuất quy mô lớn. Họ triển khai chiến lược phát triển dài hạn, đồng bộ từ hạ tầng, công nghiệp, logistics đến thương mại quốc tế, qua đó từng bước trở thành một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu lớn nhất thế giới.

Đối chiếu với hai mô hình này, có thể thấy một trong những điểm khác biệt đáng chú ý của Việt Nam hiện nay là sự mất cân đối giữa năng lực sản xuất và năng lực thương mại. Trong khi số lượng doanh nghiệp sản xuất tăng nhanh, lực lượng doanh nghiệp chuyên về thương mại, phân phối và phát triển thị trường quốc tế vẫn còn hạn chế về quy mô và năng lực.

Vì vậy, hướng đi quan trọng trong thời gian tới là cần tạo điều kiện để phát triển mạnh hơn đội ngũ bán hàng (doanh nghiệp thương mại). Đây chính là lực lượng trực tiếp kết nối hàng hóa với thị trường, mở rộng mạng lưới phân phối và nâng cao giá trị cho sản phẩm. Năng lực thương mại được củng cố, lợi thế về vị trí địa lý và năng lực sản xuất của Việt Nam mới có thể chuyển hóa hiệu quả thành giá trị kinh tế thực chất.

Vị trí địa lý thuận lợi mang lại nhiều lợi thế cho xuất khẩu Việt Nam. Ảnh minh hoạ

- Theo ông, lợi thế địa lý có thể giúp giải bài toán chi phí logistics của Việt Nam như thế nào?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Nếu chỉ dừng lại ở sản xuất và xuất khẩu hàng hóa đơn thuần, chúng ta mới chỉ khai thác được phần "bề mặt" của lợi thế. Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào dịch vụ hàng hải, chúng ta có thể trở thành trạm trung chuyển để thu phí tàu, cung cấp dịch vụ cho thủy thủ, và bảo dưỡng tàu biển.

Đặc biệt cần nâng cao nghiệp vụ thương mại, đây là "mỏ vàng" mà người Singapore đang khai thác rất tốt. Họ mua hàng của Việt Nam rồi xuất đi châu Âu; hàng chạy thẳng từ cảng Việt Nam đến Hamburg (Đức) nhưng dòng tiền lại qua Singapore và họ giữ lại một phần lợi nhuận thương mại. Chúng ta chỉ được hưởng một phần rất nhỏ trong dòng chảy thương mại đó. Do vậy Singapore không có hàng mà vẫn có kim ngạch xuất khẩu cao, tổng kim ngạch xuất khẩu của Singapore gấp rưỡi Việt Nam trong năm 2025.

Mục tiêu cốt lõi của chúng ta là phải phát triển đội ngũ công ty thương mại giỏi nghiệp vụ, có khả năng bán cả hàng Việt Nam và hàng của các quốc gia khác. Chúng ta có đa dạng sản phẩm mà đội ngũ bán hàng không tốt thì kinh tế không thể phát triển được. Sức bật từ việc bán hàng cho thế giới lớn hơn nhiều so với lượng hàng hóa nội tại chúng ta có. Theo tôi đây là vấn đề then chốt chúng ta cần lưu tâm phát triển.

Cơ hội bứt tốc

- Trong bối cảnh thế giới đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng, vị trí địa lý của Việt Nam có thể giúp chúng ta "đi tắt" như thế nào?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Thế giới luôn luôn biến động về chính trị, kinh tế và tạo ra các làn sóng nhu cầu mới. Với vị thế Top 15 cường quốc thương mại thế giới, Việt Nam cần nhanh nhạy hơn với các xu hướng để nắm bắt nhu cầu toàn cầu, các làn sóng mua hàng khác nhau để bù lấp hoặc thỏa mãn những biến động địa chính trị toàn cầu đó.

Cơ hội của chúng ta không chỉ nằm ở vị trí địa lý mà còn ở vị trí địa chính trị. Sự kết hợp giữa vị thế quốc tế đang lên, các FTA và vị trí chiến lược đã tạo ra một lợi thế vô song, giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu hàng đầu thế giới.

- Với doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ, theo ông đứng trước lợi thế này họ cần làm gì ngay hôm nay để biến "vị trí trên bản đồ" thành lợi nhuận thực tế? 

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ nên tập trung nghiên cứu nhu cầu người mua và rèn luyện kỹ năng bán hàng thay vì vội vã đầu tư vào sản xuất. Hiện nay, nhiều phân khúc khách hàng cao cấp đang thiếu sự phục vụ chuyên nghiệp do các xưởng sản xuất thường có tư duy thuần sản xuất mà yếu về khả năng chăm sóc khách hàng.

Nếu không phát triển đội ngũ công ty thương mại nội địa, chúng ta sẽ tiếp tục để các doanh nghiệp từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore... sang tận nhà máy Việt Nam mua hàng rồi xuất đi. Họ không có hàng nhưng nắm giữ nghiệp vụ và hưởng lãi nhiều hơn cả công ty sản xuất. Nếu không chủ động khai thác, chúng ta sẽ bị các doanh nghiệp ngoại "khai thác trên lưng mình" ngay tại thị trường Việt Nam.

Xin cảm ơn ông!

Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050 xác định logistics là ngành kinh tế quan trọng, có giá trị gia tăng cao và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế vị trí địa lý, tiềm năng kinh tế biển, xu thế chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, Chiến lược đề ra mục tiêu giai đoạn 2025 - 2035, tỷ trọng dịch vụ logistics trong GDP đạt 5-7%; chi phí logistics/GDP giảm còn 12-15%; xếp hạng LPI vào nhóm 40 quốc gia hàng đầu; phát triển ít nhất 5 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại; 70% lao động ngành logistics được đào tạo chuyên môn (30% có trình độ đại học trở lên).

Nguyên Thảo (thực hiện)