Bãi bỏ và sửa đổi nhiều điểm không phù hợp
Nội dung sửa đổi tập trung trước hết vào Thông tư số 24/2023/TT-BCT ngày 16/11/2023 quy định về quản lý, thực hiện các nhiệm vụ sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường của Bộ Công Thương. Tại Điều 1 Thông tư 49, quy định về nhiệm vụ bảo vệ môi trường tại Điều 3 được điều chỉnh theo hướng bãi bỏ một điểm không còn phù hợp và sửa đổi, bổ sung toàn diện nhóm nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu.
Máy phun sương cao áp dập bụi tại khu vực kho than Công ty CP Than Hà Tu
Theo đó, nhóm nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu được quy định chi tiết với 13 nhóm nội dung, tập trung vào các trụ cột chính: xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu; đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, rủi ro do biến đổi khí hậu; xây dựng, cập nhật và triển khai kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính nhằm thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định; xây dựng quy trình, quy định kỹ thuật về kiểm kê khí nhà kính, đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả kiểm kê; triển khai công tác phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính; thúc đẩy và nâng cao năng lực tham gia thị trường tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế... cùng các nhiệm vụ điều tra khảo sát, xây dựng cơ sở dữ liệu, truyền thông, kiểm tra giám sát và hợp tác quốc tế có liên quan.
Về quy trình quản lý, Thông tư 49 sửa đổi Điều 4 của Thông tư số 24 theo hướng rút gọn thủ tục. Cụ thể, trong quý I hằng năm, cơ quan quản lý nhiệm vụ phải ban hành văn bản hướng dẫn các đơn vị đăng ký nhiệm vụ cho năm tiếp theo, trên cơ sở yêu cầu quản lý, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc gia và của ngành. Nội dung hướng dẫn được công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương để các đơn vị nắm bắt, thực hiện.
Cơ quan quản lý nhiệm vụ có trách nhiệm tổng hợp danh mục, rà soát, lựa chọn nhiệm vụ đáp ứng điều kiện sử dụng kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường và thành lập Hội đồng tư vấn xét chọn nhiệm vụ trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày hết hạn tiếp nhận hồ sơ. Việc giao dự toán chi sự nghiệp bảo vệ môi trường cho các đơn vị thực hiện, quy định tại Điều 5, cũng được sửa đổi nhằm bảo đảm thống nhất, đúng trình tự với quyết định giao nhiệm vụ chi ngân sách của Thủ tướng Chính phủ và quyết định giao chi tiết của Bộ Tài chính.
Bên cạnh đó, Thông tư 49 cũng rút ngắn một số thời hạn hành chính trong khâu nghiệm thu, thanh lý hợp đồng và quyết toán kinh phí. Cụ thể, việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ ở cấp Bộ được rút xuống còn không quá 25 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý nhận đủ hồ sơ đề nghị nghiệm thu. Việc thanh lý hợp đồng đã ký kết được thực hiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý nhiệm vụ tiếp nhận đầy đủ sản phẩm đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng nghiệm thu cấp Bộ.
Quy định về quyết toán kinh phí tại Điều 12 của Thông tư số 24 cũng được sửa đổi nhằm phân định rõ trách nhiệm giữa Vụ Kế hoạch - Tài chính, cơ quan quản lý nhiệm vụ và Văn phòng Bộ Công Thương, ứng với từng trường hợp cụ thể: cơ quan chủ trì thực hiện là đơn vị dự toán trực thuộc Bộ, hoặc không thuộc đơn vị dự toán trực thuộc Bộ.
Đối với nhiệm vụ thực hiện nhiều năm, việc nghiệm thu khối lượng được tiến hành theo từng năm; cơ quan chủ trì thực hiện có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán trong vòng 30 ngày kể từ khi được Hội đồng cấp Bộ nghiệm thu.
Đồng bộ quy định về cơ sở dữ liệu môi trường
Chương II của Thông tư 49 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2020/TT-BCT ngày 30/11/2020 quy định việc khai báo, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu môi trường ngành Công Thương. Theo Điều 8 Thông tư 49 (sửa đổi Điều 4 Thông tư 42/2020/TT-BCT), thời gian tạo lập hoặc chấm dứt tài khoản truy cập cơ sở dữ liệu môi trường được rút ngắn xuống còn không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp nhận được văn bản đề nghị của đơn vị liên quan. Đồng thời, cơ quan này có trách nhiệm thông báo kết quả cấp hoặc chấm dứt tài khoản cho đơn vị đề nghị.
Thông tư cũng bổ sung quy định mới. Đó là đối với doanh nghiệp đã được cấp tài khoản truy cập cơ sở dữ liệu mà có thay đổi thông tin doanh nghiệp nhưng vẫn thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư 42/2020, doanh nghiệp tiếp tục sử dụng tài khoản đã được cấp trước đó và có trách nhiệm cập nhật kịp thời thông tin thay đổi trên hệ thống, hoặc thông báo cho cơ quan quản lý để bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu.
Cùng với đó, trách nhiệm phối hợp trong vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường ngành Công Thương được điều chỉnh tại Điều 9 Thông tư 49 (sửa đổi khoản 3 Điều 9 Thông tư 42/2020/TT-BCT): Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số có trách nhiệm phối hợp với Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp trong việc hỗ trợ kỹ thuật, hạ tầng số, kết nối, vận hành và bảo đảm an toàn thông tin đối với hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường ngành Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Xem chi tiết Thông tư số 49 và các văn bản hợp nhất tại đây.
Ngày 12/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BCT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2023/TT-BCT và Thông tư số 42/2020/TT-BCT, nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, thực hiện các nhiệm vụ sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường và về khai báo, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu môi trường ngành Công Thương. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 2/11/2026.