Đặt trọng tâm vào phòng ngừa
Chiều 11/4, tiếp tục Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Nghị quyết quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng
Phát biểu giải trình tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cảm ơn các đại biểu Quốc hội đã đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm đối với dự thảo Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Qua ý kiến phát biểu của các đại biểu tại hội trường và phiên họp tổ đều cho thấy, sự thống nhất rất cao với sự cần thiết xây dựng và ban hành nghị quyết. Các đại biểu Quốc hội cũng góp ý nhiều ý kiến cụ thể liên quan đến cơ chế phối hợp, cơ chế chính sách đặc thù, cơ quan chủ trì, cơ quan chịu trách nhiệm về mặt pháp lý... cũng như cơ chế chính sách đối với người làm công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Bộ Tư pháp đã có báo cáo tiếp thu giải trình bước đầu với ý kiến của các đại biểu Quốc hội tại thảo luận tổ. “Trên cơ sở ý kiến của đại biểu hôm nay, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu một cách thấu đáo, giải trình tối đa để đảm bảo sự phù hợp không chỉ với thực tiễn của Việt Nam mà còn với kinh nghiệm quốc tế trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế để hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội thông qua tại đợt 2 của kỳ họp” - ông Hoàng Thanh Tùng cho hay.
Làm rõ thêm một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh, cơ chế phối hợp trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế được thiết kế tại dự thảo Nghị quyết nhằm mục đích chuyển đổi căn bản từ tư duy phòng thủ và đối phó của chúng ta từ trước tới nay sang tâm thế chủ động phòng ngừa và xử lý hiệu quả các tranh chấp đầu tư quốc tế.
Trong bối cảnh chúng ta tăng cường hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư và thu hút các nhà đầu tư có chất lượng vào những lĩnh vực mà chúng ta mong muốn có đầu tư nước ngoài thì việc xem xét cơ chế này để chủ động trong việc phòng ngừa, giảm thiểu những nguy cơ rủi ro xảy ra tranh chấp và nếu có xảy ra thì chúng ta cũng có một cơ chế đang được chuẩn bị, để có thể tham gia giải quyết những tranh chấp này một cách hiệu quả nhất, bảo vệ lợi ích quốc gia. "Đây là chuyển sang một tâm thế chủ động phòng ngừa và xử lý có hiệu quả các tranh chấp đầu tư quốc tế và điều đó được thể hiện qua các điểm cụ thể như đã nêu trong dự thảo Nghị quyết" - Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh.
Cũng theo ông Hoàng Thanh Tùng, dự thảo nghị quyết đã khắc phục triệt để những bất cập của quy định về cơ chế phối hợp theo Quyết định 14 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ. Đầu tiên là tính chủ động: Quyết định 14 trước đây chủ yếu tập trung vào giai đoạn khi tranh chấp đã phát sinh, cơ chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp, nhưng dự thảo Nghị quyết này là cơ chế phối hợp trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp. Ở đây phòng ngừa được xác định là trọng tâm và khi vẫn xảy ra thì lúc đó mới phải giải quyết, cho nên đặt trọng tâm vào phòng ngừa.
Dự thảo nghị quyết cũng có một chương riêng về phòng ngừa, trong đó bổ sung rất nhiều cơ chế phối hợp từ sớm. Chẳng hạn như, cơ chế chính sách để hoàn thiện pháp luật đầu tư nhằm giảm rủi ro có thể xảy ra trong tranh chấp; bổ sung cơ chế phản hồi nhà đầu tư có hệ thống nhằm theo dõi, xử lý sớm các vướng mắc ngay từ giai đoạn có dấu hiệu tranh chấp (chưa trở thành vụ kiện), đây cũng là một biện pháp rất quan trọng.
Tiếp đó, khắc phục các khó khăn về bảo đảm nguồn lực, nhất là đối với chế độ chính sách đối với đội ngũ những người trực tiếp và tham gia làm công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Thực tiễn vừa qua cho thấy, đội ngũ cán bộ của chúng ta làm công tác này thường là kiêm nhiệm và thiếu kinh nghiệm tranh tụng quốc tế.
Chính vì vậy, dự thảo đề xuất thành lập Trung tâm phòng, ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, là một đơn vị chuyên trách để hỗ trợ pháp lý và kỹ thuật cho các bộ, ngành, địa phương. Điều đó giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào luật sư nước ngoài.
Dự thảo nghị quyết cũng cải cách quy trình hành chính, khắc phục sự chậm trễ trong việc thuê luật sư, xây dựng chiến lược pháp lý vốn là một điểm yếu của chúng ta (do thời hạn tố tụng thường rất ngắn trong cơ quan tài phán quốc tế) bằng cách cho phép các cơ chế đặc thù trong mua sắm, dịch vụ pháp lý, thuê luật sư, xây dựng kế hoạch ứng phó... như thể hiện trong dự thảo nghị quyết.
Đòi hỏi phải có những cơ chế đặc thù riêng
Bộ trưởng Bộ Tư pháp thông tin thêm, trong quá trình xây dựng dự thảo nghị quyết cơ quan chủ trì soạn thảo đã phối hợp rất chặt chẽ với các bộ, ngành và đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế. Những cơ chế thể hiện trong dự thảo nghị quyết cơ bản tương thích với các khuyến nghị tại các bộ công cụ phòng, ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế năm 2025. Đây là bộ công cụ rất cập nhật, hiện đại.
Quốc hội thảo luận về dự thảo Nghị quyết quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Những cơ chế nêu trong dự thảo nghị quyết cơ bản dựa trên khuyến nghị từ Ủy ban Liên hợp quốc. Ví dụ cơ chế cảnh báo sớm, dự thảo quy định trách nhiệm đánh giá rủi ro dựa trên rủi ro của từng dự án nhằm tạo môi trường đầu tư ổn định. "Hay ưu tiên cơ chế hòa giải, theo Liên Hợp quốc hòa giải giúp tiết kiệm được hàng triệu USD chi phí kiện tụng. Dự thảo Nghị quyết quy định rõ quy trình xây dựng phương án hòa giải cũng như cơ chế miễn trừ trách nhiệm" - Bộ trưởng nói, đồng thời chia sẻ, các cơ chế được đề xuất trên cơ sở ý kiến đại biểu Quốc hội sẽ được nghiên cứu để hoàn thiện thêm, tiếp thu tối đa những ý kiến xác đáng.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng giải trình về một số ý kiến đại biểu đề nghị mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh không chỉ đối tranh chấp đầu tư quốc tế mà đối với cả các tranh chấp quốc tế nói chung. Cũng có ý kiến đề nghị ngay cả trong lĩnh vực tranh chấp đầu tư quốc tế, không phải chỉ những doanh nghiệp có trên 50% vốn nước ngoài hoặc là một số thành viên hợp danh.
Ông Hoàng Thanh Tùng cho hay, việc tranh chấp đầu tư quốc tế như định nghĩa ở trong dự thảo là tranh chấp giữa Nhà nước hoặc cơ quan Nhà nước Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở cam kết quốc tế về đầu tư mà Việt Nam là thành viên khi nhà đầu tư nước ngoài cho rằng phía Nhà nước Việt Nam hoặc cơ quan Nhà nước Việt Nam không thực hiện đúng cam kết.
Do tính chất đặc thù, riêng biệt và phức tạp của cơ chế tố tụng rất chặt chẽ của loại tranh chấp này nên cần có nghị quyết riêng về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Chúng ta khó có thể thiết kế được một nghị quyết với một cơ chế để áp dụng chung cho tất cả các loại tranh chấp quốc tế. Mỗi loại tranh chấp quốc tế có đặc thù khác nhau cho nên đòi hỏi phải có những cơ chế đặc thù riêng.
Dự thảo nghị quyết tập trung xây dựng cơ chế phối hợp trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế nhưng Điều 20 có khoản 3 cho phép trong những trường hợp nhất định khi được cấp có thẩm quyền cho phép thì có thể vận dụng một số những quy định phù hợp của nghị quyết này để giải quyết những trường hợp tranh chấp quốc tế mà không phải là tranh chấp đầu tư. Đây là một cơ chế mở và liên quan đến quyết định, sự xem xét của các cấp có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể, tình huống cụ thể.
Về chế độ chính sách cho người làm công tác giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nêu rõ, tính đặc thù, vượt trội của cơ chế, chính sách đề xuất ở dự thảo Nghị quyết không phải là vấn đề mới. Hiện nay, chúng ta đã quy định trong một số nghị quyết được Quốc hội ban hành về cơ chế đột phá trong một số lĩnh vực.
Đồng thời, xuất phát từ yêu cầu rất đặc thù của việc xử lý những tranh chấp đầu tư quốc tế, như đòi hỏi yêu cầu chuyên môn cao, phải am hiểu sâu sắc cả pháp luật trong nước và quốc tế, thông thạo ngoại ngữ, chuyên ngành pháp lý và có kỹ năng tranh tụng tại các định chế tài phán quốc tế, áp lực và rủi ro pháp lý cũng rất cao, bởi nếu thua kiện có thể mất không phải là hàng triệu mà có thể hàng tỷ USD trong một vụ kiện nên áp lực rất lớn.
"Trong khi luật sư của quốc tế, luật sư nước ngoài tham gia các vụ kiện này, các hãng luật nước ngoài được trả thù lao rất cao. Vì vậy, nếu phía ta trả thù lao cho những người tham gia giải quyết không thỏa đáng rất khó để giữ chân những người này làm việc cho các cơ quan nhà nước" - Bộ trưởng bày tỏ.
Tại dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Chính phủ đề xuất công chức có vị trí việc làm phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế của cơ quan đại diện pháp lý trong thời gian trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, được hưởng phụ cấp tăng thêm hàng tháng không quá 300% mức lương hiện hưởng.