Hoàn thiện hạ tầng giao thông, tạo động lực phát triển
Chiều 20/4, tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội tập trung thảo luận về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, nhiều ý kiến đại biểu bàn về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 -2030 với nhiều giải pháp cụ thể.
Đại biểu Nguyễn Văn Mạnh - đoàn Phú Thọ nhấn mạnh phát triển hạ tầng giao thông kết nối chiến lược giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy liên kết vùng. Trong đó, có dự án tuyến đường kết nối Việt Trì - Hòa Bình.
Theo đại biểu, tuyến đường khi hình thành, sẽ kết nối trực tiếp những hành lang cao tốc Nội Bài - Lào Cai và Hòa Bình - Sơn La, qua đó góp phần giảm chi phí logistics, mở rộng dư địa thu hút đầu tư, hình thành các hành lang kinh tế dọc tuyến, đồng thời thúc đẩy liên kết cả trong nội tỉnh và liên vùng.
Tương tự, đề xuất định hướng phát triển hạ tầng, đại biểu Tô Ái Vang - đoàn Cần Thơ kiến nghị sớm ban hành kế hoạch triển khai quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngay từ đầu nhiệm kỳ 2026 - 2030, trong đó xác định hạ tầng giao thông vừa là điểm nghẽn, vừa là động lực phát triển vùng; thực hiện cơ chế đặc thù, đầu tư đồng bộ theo hướng lấy đường thủy làm động lực, cảng Trần Đề làm hạt nhân và đường bộ là mạch máu kết nối.
Đại biểu cũng kiến nghị triển khai các dự án trọng điểm khác như tuyến đường sắt tốc độ cao TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau, hoàn thiện cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng cùng các trục ngang, trục dọc và tuyến nhánh để trở thành "đòn bẩy" thực sự cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Đẩy mạnh thu hút đầu tư
Tại hội trường Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã trả lời, làm rõ nội dung các đại biểu Quốc hội quan tâm liên quan đến kết cấu hạ tầng giao thông, liên kết vùng, hạ tầng đường bộ, đường thủy, định hướng phát triển đường sắt và tình hình triển khai các dự án không gian.
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định phát triển đồng bộ hệ thống cảng biển, hạ tầng giao thông là một trong những động lực tăng trưởng hai con số.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh thông tin về tiến độ xây dựng, phát triển hạ tầng giao thông, từ đường bộ, đường sắt, đường biển...
Bộ trưởng cho biết, thứ nhất, đối với hệ thống đường cao tốc, theo quy hoạch định hướng đến năm 2050, mạng lưới đường cao tốc cả nước dự kiến đạt khoảng 8.993 km, trong đó 6.539 km được đầu tư, hoàn thành trước năm 2030.
Tính đến nay, cả nước đã đưa vào khai thác khoảng 3.345 km đường cao tốc. Về quy mô đầu tư, có 16% là đường 2 làn xe (548 km), 47% là đường 4 làn hạn chế (1.559 km) và 37% là cao tốc hoàn chỉnh từ 4 làn trở lên (1.238 km). Bộ Xây dựng trực tiếp quản lý, đầu tư khoảng 2.561 km (chiếm 77%), trong khi địa phương làm chủ đầu tư 784 km (chiếm 23%). Về phương thức đầu tư, vốn đầu tư công chiếm chủ đạo với 2.485 km (chiếm 74%), còn lại 860 km (26%) được triển khai theo hình thức đối tác công - tư (PPP).
Hiện đang có khoảng 1.252 km thi công trực tiếp, dự kiến hoàn thành vào năm 2027, trong đó Bộ Xây dựng thực hiện 153 km; các địa phương và bộ ngành khác thực hiện 1.099 km, phương thức đầu tư là đầu tư công 611 km, đầu tư PPP là 641 km.
Hết 2025, tính tỷ lệ trung bình số km đường cao tốc trong cả nước, Bộ trưởng cho biết, hiện nay chúng ta đã 2,23km/100km2; trong đó, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có 4,43km/100km2; 14 tỉnh biên giới cũ phía Bắc có tỷ lệ thấp hơn đạt 0,58km/100km2.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho hay, cả nước tập trung nguồn lực đầu tư tuyến cao tốc với tổng số cả nâng cấp, mở rộng từ 2 làn lên 4-6 làn xe với chiều dài 1.721km, tổng nhu cầu vốn khoảng 802.868 tỷ đồng.
Thứ hai, đối với hệ thống quốc lộ, tổng chiều dài đã đưa vào khai thác đạt khoảng 24.376 km. Trong đó, Bộ Xây dựng đã phân cấp cho địa phương quản lý 17.520 km, còn lại khoảng 4.875 km do Bộ quản lý, chủ yếu là các tuyến BOT hoặc liên quan đến quốc phòng, an ninh.
Thứ ba, đối với hệ thống đường bộ ven biển, đến nay cả nước đã cơ bản hoàn thành khoảng 1.701 km, đạt gần 60% kế hoạch. Hiện còn khoảng 340 km đang được triển khai thi công tại 10 tỉnh, thành phố.
Giai đoạn 2026 - 2030, cả nước tiếp tục đầu tư hoàn thiện thêm khoảng 772 km đường bộ ven biển, qua đó từng bước hình thành tuyến giao thông ven biển đồng bộ, kết nối liên vùng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực ven biển.
Thứ tư, về lĩnh vực đường sắt, theo quy hoạch mạng lưới đã được phê duyệt, cả nước có 25 tuyến với tổng chiều dài khoảng 6.658 km. Trong đó, 7 tuyến hiện hữu dài 2.510 km và 18 tuyến xây dựng mới với tổng chiều dài 4.148 km. Đáng chú ý, thời gian qua, Hà Nội đã bổ sung thêm 7 tuyến đường sắt đô thị, nâng tổng số tuyến theo quy hoạch lên 25 tuyến.
Về thực trạng, hệ thống đường sắt quốc gia hiện có hơn 2.000 km chủ yếu được xây dựng từ thời Pháp, với khổ đường 1.000 mm; riêng tuyến Hà Nội - Lạng Sơn sử dụng khổ 1.435 mm. Trong thời gian tới, sẽ tập trung đầu tư các tuyến đường sắt quốc gia trọng điểm như: Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh; Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái; TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau…
Đối với đường sắt đô thị, đến nay cả nước đã hoàn thành 3 tuyến, trong đó TP. Hồ Chí Minh có 1 tuyến và Hà Nội có 2 tuyến, với tổng chiều dài khoảng 41 km sau 10 năm triển khai. Theo quy hoạch, thời gian tới Hà Nội dự kiến phát triển khoảng 18 tuyến, TP. Hồ Chí Minh 12 tuyến, nâng tổng số lên 30 tuyến với tổng chiều dài khoảng 2.224 km. Trong đó, Hà Nội chiếm 1.052 km và TP. Hồ Chí Minh khoảng 1.172 km. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn này ước tính khoảng 743.907 tỷ đồng.
Thứ năm, về lĩnh vực hàng không, quy hoạch đến năm 2030 có 31 cảng hàng không (trong đó 15 càng quốc tế, 16 cảng nội địa), công suất khoảng 294 triệu hành khách/năm; đến năm 2050 tăng lên 34 cảng, công suất 533 triệu hành khách/năm. Hiện cả nước có 22 cảng hàng không, đáp ứng khoảng 155 triệu hành khách/năm. Đầu tư công vào cảng hàng không rất thấp, chủ yếu vào sửa chữa, nâng cấp; chủ yếu là PPP.
Thứ sáu, về lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa, báo cáo cho thấy hệ thống cảng biển Việt Nam hiện có 309 bến cảng với tổng chiều dài khoảng 107 km trên hơn 3.200 km bờ biển, tương đương tỷ lệ khai thác khoảng 0,1%. Bên cạnh đó, có 44 bến cầu cảng ngoài khơi, góp phần đáp ứng nhu cầu vận tải và xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước.
Hệ thống hàng hải tiếp tục được đầu tư theo hướng đồng bộ, gắn với các bến cảng và hạ tầng logistics. Năng lực thông qua của toàn hệ thống cảng biển đạt khoảng 955 triệu tấn/năm, tăng khoảng 1,3 lần so với năm 2020.
Đối với đường thủy nội địa, thời gian qua đã cải tạo, nâng cấp và đưa vào khai thác thêm các tuyến vận tải với tổng chiều dài khoảng 17 km; đồng thời hoàn thành nâng cấp khoảng 7 cầu đường bộ, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa. Hệ thống cảng, bến thủy nội địa và các trung tâm logistics cũng từng bước được đầu tư, góp phần nâng cao năng lực vận tải và kết nối đa phương thức.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng nhấn mạnh, thời gian tới, định hướng chung là đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt theo phương thức PPP, nhằm phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho hay, cả nước tập trung nguồn lực đầu tư tuyến cao tốc với tổng số cả nâng cấp, mở rộng từ 2 làn lên 4-6 làn xe với chiều dài 1.721km, tổng nhu cầu vốn khoảng 802.868 tỷ đồng.