Đóng

Bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ: Hiệu quả thực thi công vụ là thước đo

Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số đối với đội ngũ cán bộ ngành Công Thương được đo lường, đánh giá trên hiệu quả thực thi công vụ, phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Đây là nhấn mạnh của TS. Vũ Anh Hoàng - Chuyên viên chính Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Công Thương tại Tọa đàm “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Công Thương trong kỷ nguyên số” do Báo Công Thương tổ chức, ngày 9/7/2026.

Tọa đàm “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Công Thương trong kỷ nguyên số”. Ảnh: Quốc Chuyển

Mức độ sẵn sàng về nâng cao kỹ năng số chuyển biến tích cực

- Trước yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại và chuyển đổi số toàn diện, ông có chia sẻ gì về yêu cầu mới đặt ra đối với năng lực thực thi công vụ và mức độ sẵn sàng về chuyển đổi số của đội ngũ cán bộ, công chức Bộ Công Thương?

TS. Vũ Anh Hoàng: Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức thực thi công vụ, điều này đồng nghĩa yêu cầu đối với cán bộ, công chức, viên chức không chỉ là nắm chắc chuyên môn, quy trình, thủ tục mà còn phải làm việc hiệu quả trên môi trường số.

Đối với Bộ Công Thương, yêu cầu này rất cấp thiết, bởi Bộ Công Thương là Bộ quản lý nhiều lĩnh vực trọng yếu, yêu cầu mức độ số hóa và tác động công nghệ rất nhanh như công nghiệp, thương mại, năng lượng, xuất nhập khẩu, thương mại điện tử, kinh tế số, dịch vụ công trực tuyến. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với cán bộ, công chức trong giai đoạn nay là phải thay đổi tư duy thực hiện chuyên môn đơn thuần sang tư duy trên môi trường số, phải có kỹ năng sử dụng nền các tảng công nghệ cũng như khai thác dữ liệu số.

Trước đây, cán bộ khai thác dữ liệu qua văn bản cứng, đánh giá báo cáo. Tuy nhiên, hiện nay với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và cập nhật số liệu trên môi trường số, do đó mỗi cán bộ buộc phải có kỹ năng khai thác, phân tích dữ liệu số một cách bài bản, chuyên nghiệp. Ngoài ra, mỗi cán bộ phải có kỹ năng phối hợp trên môi trường điện tử, đặc biệt năng lực tương tác, phục vụ người dân, doanh nghiệp qua dịch vụ công trực tuyến cũng là yêu cầu mới đặt ra. Đồng thời, cán bộ phải nâng cao ý thức bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu công vụ đã được cụ thể hóa qua các quy định.

Theo đánh giá của chúng tôi, đến nay, đội ngũ cán bộ, công chức Bộ Công Thương đều có mức độ sẵn sàng về nâng cao kỹ năng số. Hiện 100% các đơn vị đã sử dụng thành thạo hệ thống quản lý văn bản, điều hành và thực hiện hành chính không giấy tờ trong trao đổi nội bộ.
Bên cạnh đó, các đơn vị đều sử dụng họp trực tuyến; xử lý hồ sơ điện tử, hạn chế giấy tờ; trao đổi, phối hợp qua nền tảng số cải thiện nhất định. Tuy nhiên, kỹ năng số vẫn chưa thật sự đồng đều; kỹ năng khai thác dữ liệu còn bị ảnh hưởng về độ tuổi, nhận thức, như nhóm cán bộ dưới 50 tuổi tiếp cận nhanh với công nghệ, với trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu số, trong khi nhóm cán bộ trên 50 tuổi gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận, thích ứng.

“Học để biết” sang “học để làm”

- Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn về chuyển đổi số năm 2026, đặt mục tiêu 100% cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức và người lao động trong các đơn vị thuộc Bộ hàng năm được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về chuyển đổi số, kỹ năng số và công nghệ số. Ông có thể cho biết rõ hơn về các định hướng, nội dung của Kế hoạch?

TS. Vũ Anh Hoàng: Như chúng ta thấy, chuyển đổi số không chỉ là dùng phần mềm, số hóa văn bản hay họp trực tuyến, mà là thay đổi tư duy quản lý, phương pháp làm việc, cách xử lý thông tin và cách phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì thế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng phải đổi mới tập trung vào thực hành, nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng; tăng chất lượng tham mưu công vụ.

TS. Vũ Anh Hoàng - Chuyên viên chính Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển

Theo đó, Kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn về chuyển đổi số năm 2026 tập trung các định hướng, sau:

Một là chuyển từ việc “học để biết” dùng công nghệ sang “học để làm”, thực thi công vụ trong môi trường số; sau bồi dưỡng, cán bộ phải áp dụng được vào công việc, như: xử lý văn bản nhanh hơn, tổng hợp báo cáo tốt hơn, khai thác dữ liệu hiệu quả hơn, sử dụng AI hỗ trợ nghiên cứu, tổng hợp, dự thảo, kiểm chứng thông tin. Đồng thời, sau mỗi khoá bồi dưỡng phải có phản hồi từ các đơn vị về hiệu quả áp dụng kiến thức trong thực tiễn.

Hai là đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, theo nhóm vị trí công tác, như: cán bộ tham mưu chính sách cần có kỹ năng phân tích dữ liệu, tổng hợp thông tin, đánh giá tác động chính sách; cán bộ giải quyết thủ tục hành chính cần có kỹ năng xử lý hồ sơ điện tử, vận hành dịch vụ công trực tuyến, theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ; cán bộ lãnh đạo, quản lý cần kỹ năng quản trị số điều hành dựa trên dữ liệu, kiểm tra, giám sát công việc qua nền tảng số; viên chức các cơ sở đào tạo thuộc Bộ: cần kỹ năng số hóa học liệu, đào tạo trực tuyến, quản lý dữ liệu người học, quản trị cơ sở đào tạo trên môi trường số.

Ba là tăng thực hành, giảm lý thuyết chung: tập trung vào tình huống công vụ cụ thể, thực hành xử lý hồ sơ điện tử, thực hành khai thác dữ liệu số, sử dụng AI, kiểm chứng kết quả, nhận diện rủi ro an toàn thông tin, nhấn mạnh nguyên tắc AI là công cụ hỗ trợ, cán bộ vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng đối với sản phẩm công vụ.

Bốn là học tập thường xuyên, liên tục: công nghệ thay đổi rất nhanh, do đó phải cập nhật thường xuyên, cán bộ phải tự học, tự cập nhật tránh lạc hậu không thể học một lần là đủ. Ngoài ra, cần phát triển học liệu điện tử, mô-đun ngắn, khoá học trực tuyến, chuyên đề cập nhật về AI, dữ liệu, an toàn thông tin, kỹ năng số…

- Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong việc thích ứng với chuyển đổi số của cán bộ, công chức, cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, theo ông còn những khó khăn, thách thức nào đặt ra đối với công tác này?

TS. Vũ Huy Hoàng: Trước hết là nhận thức về chuyển đổi số của cán bộ, công chức. Qua đánh giá có thể thấy, một số lãnh đạo đơn vị nhận thức rõ ràng về vai trò quan trọng của ứng dụng công nghệ số trong công tác, như giúp giảm thiểu thời gian dư thừa trong giải quyết các nhiệm vụ; tăng thời lượng tham mưu chính sách.

Tuy nhiên, cũng vẫn còn có bộ phận chưa nhận thức tầm quan trọng của chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong thực thi công vụ. Ngoài ra, mặt bằng kiến thức kỹ năng ứng dụng công nghệ chưa đồng đều, nên việc thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn gặp khó khăn, phải phân tầng về nội dung, kiến thức đào tạo, bồi dưỡng một cách phù hợp.

Trên cơ sở thực tế đó, theo Quyết định số 296/QĐ-BCT phê duyệt Kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn về chuyển đổi số năm 2026 của Bộ Công Thương đã nêu rõ phương thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng khoa học, nhằm thay đổi rõ ràng về nhận thức tư duy của lãnh đạo đến đội ngũ cán bộ, công chức. Qua đó tập trung xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng căn bản, đào tạo đại trà đến tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu, tạo đầu mối lan tỏa công nghệ, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi số, kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng đo lường thực chất trong công việc

- Thưa ông, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về chuyển đổi số, kỹ năng số của Bộ Công Thương sẽ được đánh giá theo những tiêu chí nào? và làm thế nào để kỹ năng số trở thành năng lực thiết yếu của mỗi cán bộ, công chức thay vì chỉ dừng lại ở các khóa học mang tính phong trào?

TS. Vũ Anh Hoàng: Có thể khẳng định, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số không nên đánh giá chủ yếu bằng số lớp học, số học viên hay tỷ lệ tham gia mà là dựa trên sự chuyển biến thực chất trong công việc: đó là phương thức quản lý, điều hành hiệu quả hơn hay không? cán bộ có làm việc tốt hơn không, quy trình xử lý nhiệm vụ có nhanh hơn, thuận lợi hơn hay không? chất lượng tham mưu có nâng lên không, cũng như việc phục vụ người dân, doanh nghiệp có thuận lợi hơn không?

Vì thế, các tiêu chí đánh giá được đưa ra, cụ thể như sau:

Thứ nhất là mức độ bao phủ các chương trình, khóa đào tạo, bồi dưỡng về chuyển đối số. Theo đó, cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức có được cập nhật về chuyển đổi số hàng năm hay không, nội dung đào tạo có phù hợp với từng nhóm vị trí việc làm không?

Thứ hai là mức độ tiếp thu của người học. Đó là đánh giá qua bài kiểm tra ngắn, bài thực hành, tình huống xử lý công việc, sản phẩm đầu ra sau khóa học.

Thứ ba là khả năng ứng dụng vào công việc. Theo đó, đánh giá việc cán bộ có sử dụng tốt hơn hệ thống quản lý văn bản, chữ ký số, dịch vụ công trực tuyến, công cụ khai thác dữ liệu, công cụ AI hỗ trợ tổng hợp, phân tích, dự thảo hay không?

Thứ tư là tác động đến cơ quan, đơn vị. Quy trình xử lý công việc có được cải tiến không? thời gian xử lý có rút ngắn không? Tỷ lệ xử lý công việc trên môi trường số có tăng không? Đồng thời, chất lượng báo cáo, tham mưu có tốt hơn không, cũng như sự phối hợp giữa các đơn vị có thuận lợi hơn không?

Thứ năm là hình thành lực lượng nòng cốt về chuyển đổi số. Mỗi đơn vị cần có cán bộ nòng cốt để hỗ trợ đồng nghiệp, hướng dẫn sử dụng công cụ số, phối hợp với đơn vị chuyên môn, tham gia cải tiến quy trình và lan tỏa phương thức làm việc số.

Trước yêu cầu về chuyển đổi số hiện nay, giải pháp cần triển khai để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng về chuyển đổi số, kỹ năng số đó là: đưa kỹ năng số vào yêu cầu của vị trí việc làm, gắn kết quả bồi dưỡng với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tăng cường đào tạo thực hành, tình huống, xây dựng văn hóa tự học, tự cập nhật kiến thức số, cũng như khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm sử dụng công cụ số, AI trong nội bộ đơn vị.

Xin cảm ơn ông!

TS. Vũ Anh Hoàng: Đến nay, Bộ Công Thương đã và đang tổ chức các lớp bồi dưỡng về chuyển đổi số, kỹ năng số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó có sự phối hợp của Vụ Tổ chức Cán bộ với các đơn vị, cơ sở đào tạo thuộc Bộ và các đối tác công nghệ. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng không chỉ bảo đảm tiến độ, chất lượng mà còn nhận được nhiều phản hồi tích cực, góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng ứng dụng công nghệ và từng bước hình thành môi trường làm việc số trong toàn ngành.

Bảo Thoa (thực hiện)