Đóng

Bước ngoặt tư duy quản trị từ Hội nghị Trung ương 2

Theo các chuyên gia, Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đã định hình một bước chuyển căn bản trong tư duy quản trị quốc gia: từ “kiểm soát để hạn chế rủi ro” sang “kiểm soát, kiến tạo phát triển”.

 

 

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng - Ủy viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhìn nhận, mục tiêu tăng trưởng “2 con số” và kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng không hề mâu thuẫn với nhau, ngược lại, phải được nhìn nhận như hai mặt của cùng một yêu cầu phát triển bền vững.

Theo phân tích của chuyên gia, nếu nhìn trong ngắn hạn, việc siết kỷ luật, tăng cường kiểm soát có thể làm chậm quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, cách nhìn này mới chỉ phản ánh phần “hiện tượng”, chưa chạm tới bản chất.

Về dài hạn, tăng trưởng thiếu kỷ luật thể chế sẽ dẫn tới ba hệ quả mang tính hệ thống: phân bổ sai nguồn lực, chi phí “ngầm” gia tăng, suy giảm niềm tin thị trường. Khi đó, tốc độ tăng trưởng nhanh có thể trở thành “tăng trưởng ảo”, phải trả giá rất đắt bằng bất ổn trung và dài hạn.

Ngược lại, kiểm soát quyền lực nếu được thiết kế đúng không phải là lực cản, mà là “hạ tầng thể chế” của tăng trưởng, giúp thị trường vận hành minh bạch, giảm rủi ro và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư, tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng, nơi hiệu quả và sáng tạo được tưởng thưởng, thay vì quan hệ và đặc quyền. 

Vấn đề vì vậy không nằm ở lựa chọn “tăng trưởng hay kiểm soát”, mà ở năng lực thiết kế để hai yếu tố này hỗ trợ lẫn nhau trong cùng một cấu trúc phát triển.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, điểm đột phá trong tư duy quản trị được thể hiện rõ ở sự chuyển dịch phương thức kiểm soát. Thay vì kiểm soát bằng tiền kiểm và thủ tục hành chính nặng nề, mô hình mới hướng tới: quy tắc minh bạch, dễ dự đoán; trao quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm có chất lượng, đủ mạnh và tin cậy.

Cách tiếp cận này tạo ra một trạng thái cân bằng quan trọng: hệ thống vừa đủ linh hoạt để thúc đẩy tăng trưởng, vừa có “phanh” để không đi chệch hướng. Nói cách khác, tăng trưởng không còn được hiểu là “tăng bằng mọi giá”, mà là tăng trưởng có kỷ luật, có khả năng tự điều chỉnh và tự bảo vệ trước rủi ro thể chế.

 

 

Một điểm nhấn quan trọng khác của Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV là tái định nghĩa vai trò của hậu kiểm trong quản trị quốc gia. Theo Tiến sĩ Trương Cộng Hòa - Giám đốc Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng được tích hợp sâu vào toàn bộ quá trình vận hành của bộ máy, trở thành điều kiện nền tảng để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.

Trong mô hình mới, hậu kiểm được “cài đặt” ngay trong quy trình vận hành thông qua: số hóa, minh bạch hóa thủ tục; cơ chế truy vết trách nhiệm rõ ràng; giám sát dựa trên rủi ro và dữ liệu.

Thay vì kiểm tra đại trà, cơ quan quản lý tập trung vào các lĩnh vực và chủ thể có nguy cơ cao phát sinh tham nhũng, tiêu cực, qua đó nâng cao hiệu lực kiểm soát, giảm chi phí tuân thủ cho xã hội, cách tiếp cận này bảo đảm đúng tinh thần “kiên quyết nhưng không hình thức”. Hậu kiểm lúc này đảm nhiệm chức năng phòng ngừa và sàng lọc, phát hiện và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng.

Một thay đổi mang tính cấu trúc là việc cá thể hóa trách nhiệm trong từng khâu, từng quyết định, giúp hạn chế tình trạng né tránh, đùn đẩy, giảm kiểm tra chồng chéo. Tăng tính minh bạch và khả năng kiểm chứng. Đây cũng là nền tảng để thực thi nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” theo hướng thực chất, minh bạch và có thể kiểm chứng.

Đặc biệt, để không triệt tiêu động lực đổi mới, cơ chế hậu kiểm được thiết kế theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa kỷ luật nghiêm minh và tính nhân văn trong chính sách cán bộ. 

Đồng quan điểm, Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường - Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho rằng, Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV đã đặt ra một yêu cầu rất rõ ràng chuyển từ mô hình quản lý “an toàn, không sai” sang mô hình “chủ động, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. Đây là sự đổi mới căn bản về tư duy quản trị quốc gia trong bối cảnh mới.

Để chuyển hóa tinh thần “dám nghĩ, dám làm” thành hành động thực tiễn, điều kiện tiên quyết là phải hoàn thiện một hành lang pháp lý đủ rõ ràng, minh bạch và có khả năng bảo vệ cán bộ trong quá trình thực thi công vụ.

Trong đó, các quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025) cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng mở rộng các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hoạt động đổi mới, sáng tạo.

Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 và Luật Cán bộ, công chức (sửa đổi 2019) cũng cần được rà soát, bổ sung theo hướng làm rõ phạm vi quyền chủ động, sáng tạo của cán bộ trong thi hành công vụ. Đây chính là cơ sở pháp lý để chuyển hóa tinh thần “dám nghĩ, dám làm” thành hành động cụ thể.

Một điểm then chốt khác là phải thiết lập cơ chế bảo vệ cán bộ trên cơ sở pháp lý cụ thể, thay vì chỉ dừng lại ở chủ trương. Tinh thần của Kết luận 14-KL/TW (2021) cần được thể chế hóa thành các quy định mang tính “vùng an toàn pháp lý”.

Theo luật sư, thực tiễn phòng, chống tham nhũng thời gian qua, dù đạt nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng bộc lộ một hệ quả đáng lưu ý là tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ.

Để hành lang pháp lý phát huy hiệu quả, cần xây dựng một hệ thống tiêu chí rõ ràng, đánh giá một quyết định là “dám làm đúng” hay “lạm quyền”. Các tiêu chí này phải dựa trên những yếu tố cốt lõi như: căn cứ pháp lý, cơ sở thực tiễn, quy trình ra quyết định, mức độ minh bạch và mục tiêu phục vụ lợi ích công. Khi có thước đo cụ thể, việc bảo vệ cán bộ sẽ khách quan, nhất quán, tránh được tình trạng tùy nghi trong áp dụng.

Hành lang pháp lý cho tự chủ quyết định phải là một hệ thống đồng bộ, trong đó pháp luật minh bạch là nền tảng, cơ chế bảo vệ là động lực và kiểm soát quyền lực là điều kiện bảo đảm. Khi ba yếu tố này được thiết kế hài hòa, sẽ xây dựng được một đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, hành động trong khuôn khổ pháp luật, tạo ra những đột phá thực chất cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới” - Luật sư Đặng Văn Cường nêu.

 

 

Dù định hướng tư duy đã rõ ràng, tuy nhiên, theo các chuyên gia, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở năng lực triển khai.

Thứ nhất, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đòi hỏi hệ thống dữ liệu đủ mạnh và đồng bộ. Nếu không, nguy cơ “nới lỏng kiểm soát nhưng không tăng được hiệu lực”.

Thứ hai, mô hình giám sát dựa trên rủi ro yêu cầu năng lực phân tích và dự báo cao của bộ máy quản lý. Đây là điểm yếu cố hữu nếu không có cải cách đồng bộ về công nghệ và nhân lực.

Thứ ba, cá thể hóa trách nhiệm nếu không đi kèm cơ chế bảo vệ rõ ràng có thể tạo áp lực ngược, khiến cán bộ e ngại quyết định, làm triệt tiêu động lực đổi mới, điều mà chính mô hình mới đang cố gắng khắc phục.

Cuối cùng, sự tích hợp kiểm soát quyền lực vào hệ thống vận hành đòi hỏi tính nhất quán và kỷ luật thực thi ở mọi cấp, tránh “thiết kế đúng nhưng vận hành lệch” làm suy giảm hiệu quả của toàn bộ mô hình.

Điểm cốt lõi của bước ngoặt tư duy tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV nằm ở việc tái định vị vai trò của kiểm soát quyền lực. Đây là chuyển dịch mang tính cấu trúc trong tư duy quản trị: từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển, từ kiểm soát thụ động sang kiểm soát kiến tạo. Vấn đề còn lại không phải là đúng hay sai của mô hình, mà là tốc độ và chất lượng hiện thực hóa trong thực tiễn.

Tiến sĩ Trương Cộng Hòa nhấn mạnh, cơ chế hậu kiểm trong mô hình mới còn mang chức năng phòng ngừa và sàng lọc. Thông qua kiểm tra, giám sát, kịp thời nhận diện các “lỗ hổng” thể chế để khắc phục, phát hiện những cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt để bồi dưỡng, sử dụng. Điều này thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng: phòng, chống tham nhũng phải gắn với xây dựng đội ngũ, vừa “chống” vừa “xây”.

Do đó, việc tích hợp phòng, chống tham nhũng vào mô hình quản trị mới sẽ định hình một cơ chế hậu kiểm “nhẹ về thủ tục nhưng nặng về hiệu lực, nghiêm về kỷ luật nhưng mở về phát triển”. Đây chính là cách để bảo đảm kiểm soát quyền lực thực chất, giải phóng nguồn lực, tạo dư địa cho tăng trưởng và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên phát triển mới.

 

Nguyên Khánh thực hiện