Đóng

Cần đẩy nhanh giao đất, giao rừng để tránh ‘rừng không chủ’

Khoảng 3,07 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp do cấp xã quản lý đang bộc lộ nhiều bất cập. Các chuyên gia đề xuất đẩy nhanh giao đất, giao rừng để nâng cao hiệu quả sử dụng

Sáng 4/6, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (VIESARD) phối hợp với Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cùng Tổ chức Forest Trends tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý”.

81,5% diện tích thực tế đã do người dân sử dụng

Theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2025, cả nước hiện có khoảng 3,07 triệu ha rừng chưa giao, chưa cho thuê do UBND cấp xã quản lý, tương đương 20,51% tổng diện tích rừng cả nước. Sau khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/07/2025, nhiều chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp và rừng trước đây của cấp huyện đã được phân cấp, chuyển giao về cho cấp xã.

Ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy thông tin, dữ liệu về các hoạt động quản lý diện tích rừng do xã quản lý vẫn còn thiếu rõ ràng; hệ thống pháp luật chưa xác lập đồng bộ địa vị pháp lý của UBND xã như một chủ rừng thực chất, dẫn đến việc thiếu hụt nguồn lực tài chính, nhân sự chuyên môn và các công cụ kỹ thuật hỗ trợ tuần tra, giám sát.

Ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết, đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế - xã hội.  Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính hướng tới “Net Zero” vào năm 2050, thúc đẩy thị trường carbon rừng và đáp ứng các quy định nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc nông lâm sản, yêu cầu làm rõ thực trạng và tìm ra các giải pháp, mô hình quản trị bền vững đối với quỹ đất lâm nghiệp do cấp xã quản lý trở nên cấp bách.

Trình bày kết quả nghiên cứu tại hội thảo, ThS. Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho biết, diện tích 3,07 triệu ha hiện nay chủ yếu hình thành từ ba nguồn: diện tích chưa hoàn tất giao đất, giao rừng từ các chương trình triển khai từ những năm 1990; diện tích Nhà nước thu hồi từ các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng không hiệu quả; và diện tích đang có tranh chấp hoặc chưa xác định rõ chủ sử dụng.

Kết quả khảo sát cho thấy diện tích này tập trung chủ yếu tại Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ - những vùng có diện tích rừng lớn nhất cả nước. Đáng chú ý, qua đối chiếu dữ liệu quản lý với ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa, nhóm nghiên cứu xác định khoảng 81,5% diện tích hiện nay trên thực tế đã do người dân quản lý, sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau.

Nhiều khu vực đã được người dân sử dụng ổn định từ hàng chục năm trước, thậm chí từ những năm 1990, nhưng đến nay vẫn chưa hoàn tất thủ tục giao đất, giao rừng hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này tạo ra khoảng cách lớn giữa thực trạng sử dụng và hồ sơ quản lý nhà nước. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện sự chênh lệch khoảng 4.400 ha giữa số liệu hiện trạng rừng và kết quả rà soát bằng ảnh vệ tinh tại một số địa phương, cho thấy việc cập nhật dữ liệu quản lý chưa thực sự kịp thời.

Đưa rừng về đúng chủ thể quản lý

Theo các chuyên gia, việc giao diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê cho cấp xã quản lý trong thời gian qua đã góp phần duy trì công tác bảo vệ rừng, hạn chế tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế hiện hành vẫn bộc lộ nhiều bất cập.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Một trong những vướng mắc lớn nhất là UBND cấp xã được giao quản lý diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê nhưng không được xác định là chủ rừng theo nghĩa đầy đủ. Tương tự, đối với đất lâm nghiệp, cấp xã cũng không có đầy đủ quyền của một chủ sử dụng đất thực sự. Điều này khiến chính quyền cơ sở gặp khó khăn trong việc huy động nguồn lực, tổ chức bảo vệ rừng và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Khảo sát tại nhiều địa phương cho thấy sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khối lượng công việc của cấp xã tăng mạnh. Nhiều phòng kinh tế chỉ có 6-7 cán bộ nhưng phải phụ trách đồng thời nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, môi trường, giảm nghèo và phát triển kinh tế. Trong khi đó, phần lớn các xã không có cán bộ lâm nghiệp hoặc kiểm lâm chuyên trách dù đang quản lý hàng nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp.

Khó khăn về nguồn lực tài chính cũng là vấn đề nổi cộm. Nhiều địa phương phản ánh kinh phí bảo vệ rừng được phân bổ nhưng không thể giải ngân do chưa xác định được chủ thể nhận khoán hoặc không hoàn tất kịp thủ tục theo quy định.

Đặc biệt, việc chậm hoàn thiện hồ sơ pháp lý đang ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. Khoảng 81% diện tích hiện do người dân sử dụng nhưng chưa có đầy đủ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng giao khoán hợp pháp, khiến nhiều hộ khó tham gia các chương trình quản lý rừng bền vững và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường xuất khẩu.

Từ thực tiễn khảo sát, các chuyên gia kiến nghị cần sớm hoàn thiện thể chế, làm rõ thẩm quyền của UBND cấp xã trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng cơ chế giao khoán đất, rừng phù hợp; đồng thời nghiên cứu các mô hình hỗ trợ quản lý quỹ đất, quỹ rừng tại địa phương.

Các chuyên gia thống nhất rằng giải pháp căn cơ nhất là đẩy nhanh giao đất, giao rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư có nhu cầu sử dụng thực sự. Theo đó, chỉ nên giữ lại cho cấp xã quản lý những diện tích đặc thù như sông suối, núi đá hoặc khu vực không thể giao cho các chủ thể khác.

Nhóm nghiên cứu đề xuất mục tiêu giảm diện tích rừng và đất lâm nghiệp do cấp xã quản lý từ hơn 3 triệu ha hiện nay xuống dưới 1 triệu ha trong thời gian tới. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng, giảm tranh chấp đất đai, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân và tạo động lực phát triển kinh tế lâm nghiệp.

ThS. Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đề xuất bảy nhóm giải pháp trọng tâm gồm: Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu; đẩy nhanh giao đất, giao rừng; đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu đất đai và lâm nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số; kiện toàn bộ máy quản lý; huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính; và bảo đảm sinh kế cho người dân tham gia bảo vệ rừng.

Ông Long cũng nhấn mạnh cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đồng bộ hóa các quy định của Luật Lâm nghiệp và Luật Đất đai nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài liên quan đến quản lý đất rừng, xử lý chồng lấn ranh giới và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để phát triển các mô hình kinh tế dưới tán rừng, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu, du lịch sinh thái và thị trường tín chỉ carbon nhằm nâng cao giá trị kinh tế của rừng.

Khi quyền sử dụng đất và quyền quản lý rừng được xác lập rõ ràng, người dân sẽ có thêm động lực đầu tư sản xuất, tham gia quản lý rừng bền vững, phát triển sinh kế từ rừng và tiếp cận các cơ hội mới từ thị trường carbon. Đây cũng là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Nguyễn Hạnh