Hệ luỵ pháp lý từ "vàng trên giấy"
Hiện nay, giá vàng liên tục biến động mạnh trong thời gian ngắn, đẩy tâm lý thị trường vào trạng thái căng thẳng. Trong “cơn sốt” đó, không ít người dân chấp nhận "xuống tiền" nhưng chưa nhận vàng ngay, thay vào đó là những giấy hẹn kéo dài nhiều tuần, thậm chí hàng tháng, tiềm ẩn rủi ro khó lường.
Thực tế, nhiều người dân mua vàng đang rơi vào trạng thái lo lắng, thấp thỏm khi doanh nghiệp liên tục lùi lịch giao, thay đổi thời gian nhận hàng hoặc viện dẫn lý do thiếu nguồn cung dù đã thanh toán đủ tiền.
Những tờ giấy hẹn nhận vàng sau khi đã thanh toán đủ 100% tiền mua. Ảnh: Quang Anh
Những diễn biến trên cho thấy một khoảng trống đáng lưu ý về mức độ an toàn của các giao dịch “vàng trên giấy”. Khi quyền kiểm soát không nằm trong tay người mua, rủi ro phát sinh là điều khó tránh khỏi.
Làm rõ bản chất và hệ lụy pháp lý của vấn đề này, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội) cho biết: Việc doanh nghiệp kinh doanh vàng thu tiền 100% nhưng hẹn giao hàng sau một thời gian nhất định không phải là hành vi bị cấm tuyệt đối theo pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, đây là mô hình tiềm ẩn nhiều rủi ro, cần được đánh giá chặt chẽ trên cơ sở các quy định chuyên ngành về kinh doanh vàng và pháp luật dân sự, thương mại.
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư T.P Hà Nội). Ảnh: V.T
Trước hết, theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự, các bên có quyền tự do thỏa thuận về phương thức thanh toán và thời điểm thực hiện nghĩa vụ. Điều 3 và Điều 385 của Bộ luật Dân sự 2015 khẳng định nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, miễn là không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Đồng thời, Điều 430 của bộ luật này quy định về hợp đồng mua bán tài sản, trong đó cho phép các bên thỏa thuận việc thanh toán trước và giao tài sản sau. Như vậy, về hình thức, việc thu tiền trước 100% rồi giao vàng sau không trái pháp luật nếu được xác lập trên cơ sở hợp đồng hợp pháp.
Theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, đối với vàng miếng - mặt hàng thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện và chịu sự quản lý đặc biệt của Nhà nước, theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, chỉ các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp phép mới được phép kinh doanh mua, bán vàng miếng. Điều 10 của Nghị định này quy định rõ điều kiện cấp phép, còn Điều 11 quy định phạm vi hoạt động kinh doanh vàng miếng.
Do đó, nếu doanh nghiệp không có giấy phép hợp lệ mà vẫn nhận tiền của khách hàng để bán vàng miếng, giao dịch có thể bị xem là vi phạm pháp luật, kéo theo hậu quả bị xử phạt hành chính, thậm chí bị tịch thu tang vật theo quy định tại Nghị định 340/2025/NĐ-CP.
Luật sư Tuấn cho biết thêm, trong trường hợp doanh nghiệp có giấy phép hợp pháp, việc nhận tiền trước và giao vàng sau vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt nghĩa vụ hợp đồng. Theo Điều 351 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự 2015, bên bán có nghĩa vụ giao tài sản đúng thời hạn, đúng số lượng, chất lượng đã cam kết; nếu vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự, bao gồm hoàn trả tiền, bồi thường thiệt hại và trả lãi đối với khoản tiền chậm trả. Nếu doanh nghiệp chậm giao vàng hoặc không giao vàng theo thỏa thuận, khách hàng hoàn toàn có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình.
Từ góc độ quản lý nhà nước và thực tiễn thị trường, việc thu tiền 100% rồi hẹn giao vàng miếng sau một thời gian dài, đặc biệt trong bối cảnh giá vàng biến động mạnh, có thể bị xem là dấu hiệu bất thường và tiềm ẩn nguy cơ “chiếm dụng vốn” hoặc huy động vốn trái phép. Do đó, dù pháp luật không cấm tuyệt đối mô hình này, nhưng nếu doanh nghiệp không chứng minh được nguồn hàng, không đảm bảo khả năng giao hàng hoặc có dấu hiệu huy động tiền từ nhiều người trong khi không có vàng thực tế, rất dễ bị cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý.
“Việc thu tiền trước và giao vàng miếng sau chỉ được coi là hợp pháp khi doanh nghiệp có đầy đủ giấy phép kinh doanh vàng miếng, giao kết hợp đồng minh bạch và thực sự có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Ngược lại, nếu vi phạm các điều kiện này, giao dịch không chỉ phát sinh tranh chấp dân sự mà còn có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm”, Luật sư Tuấn nhấn mạnh.
Rủi ro lớn từ “giấy hẹn”
Trong kịch bản xấu nhất khi doanh nghiệp bị thanh tra, đình chỉ hoạt động hoặc rơi vào tình trạng phá sản trong thời gian chưa giao vàng, giá trị pháp lý của “giấy hẹn” cần được nhìn nhận đúng bản chất.
“Đó không phải là bằng chứng xác lập quyền sở hữu đối với vàng, mà chỉ là chứng cứ về một nghĩa vụ hợp đồng chưa được thực hiện”, luật sư Tuấn nhận định.
Vì vậy, người mua chưa nhận vàng về nguyên tắc không được coi là chủ sở hữu tài sản cụ thể, mà là người có quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc hoàn trả tiền.
Tóm lại, trong tình huống xấu, “giấy hẹn” không bảo đảm cho người dân quyền ưu tiên nhận lại vàng hoặc tiền. Phần lớn trường hợp, người mua sẽ được xem là chủ nợ không có bảo đảm và phải tham gia vào quá trình giải quyết nghĩa vụ chung của doanh nghiệp, với rủi ro không thu hồi đủ hoặc kịp thời số tiền đã giao. Đây chính là rủi ro pháp lý lớn nhất của mô hình thanh toán trước nhận vàng sau.
Trao đổi thêm với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Quang Thuận, Giám đốc Công ty luật PLLT nhấn mạnh, nếu người dân vẫn lựa chọn hình thức mua vàng hẹn giao sau, điều quan trọng phụ thuộc nội dung pháp lý được ghi trên "giấy hẹn". Theo luật sư, giấy hẹn phải được xây dựng như một hợp đồng hoàn chỉnh, với các điều khoản “cứng rắn” để bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp.
Điều quan trọng phụ thuộc nội dung pháp lý được ghi trên giấy hẹn. Ảnh: Quang Anh
Cụ thể, trước hết, phải xác định rõ thời điểm giao vàng cố định, ghi chi tiết ngày, giờ, địa điểm giao nhận, kèm chế tài chậm giao theo quy định tại Bộ luật Dân sự. Chẳng hạn, cần quy định rõ mỗi ngày chậm giao doanh nghiệp phải chịu phạt theo tỷ lệ phần trăm giá trị hợp đồng, tránh tình trạng kéo dài không có ràng buộc. Đồng thời, doanh nghiệp phải cam kết có sẵn nguồn cung và chịu trách nhiệm giao đúng loại vàng đã thỏa thuận, bảo đảm nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán tài sản.
Bên cạnh đó, điều khoản bồi thường thiệt hại cần được thể hiện rõ ràng, trong đó, nêu cụ thể trách nhiệm của doanh nghiệp nếu không giao vàng đúng hạn, bao gồm việc bù phần chênh lệch giá vàng tại thời điểm lẽ ra phải giao.
Luật sư cũng lưu ý, cần ràng buộc việc không được đơn phương hủy hợp đồng với lý do “hết hàng”, bởi nếu không quy định trước, người mua sẽ rơi vào thế bị động.
Một yếu tố không thể thiếu là xác nhận pháp lý của doanh nghiệp, bao gồm việc ghi rõ số giấy phép kinh doanh vàng miếng theo quy định, nhằm bảo đảm giao dịch diễn ra với đơn vị đủ điều kiện. Cùng với đó, hình thức thanh toán và chứng từ nhận tiền cũng phải được thể hiện minh bạch để chứng minh người mua đã hoàn tất nghĩa vụ tài chính.
“Tóm lại, để tránh rủi ro ‘vàng trên giấy’, người mua không thể chỉ cầm một phiếu thu đơn giản, mà phải yêu cầu hợp đồng đầy đủ các điều khoản về thời hạn, trách nhiệm, chế tài và bồi thường. Chỉ khi đó, tờ giấy mới thực sự có giá trị bảo vệ trước pháp luật”, luật sư Nguyễn Quang Thuận khuyến nghị.
Theo Điều 158 và Điều 161 của Bộ luật Dân sự 2015, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Đồng thời, Điều 439 của bộ luật này quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản mua bán là thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Như vậy, nếu người mua mới chỉ thanh toán tiền nhưng chưa nhận vàng và cũng không có thỏa thuận rõ ràng về việc chuyển quyền sở hữu trước thời điểm giao tài sản, về nguyên tắc, quyền sở hữu đối với vàng vẫn chưa được chuyển sang cho người mua.