Công nghệ phải giải quyết các bài toán thực tiễn
Ngày 25/3, tại Hà Nội, Bộ Công Thương tổ chức Tọa đàm: Xây dựng chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực Công Thương nhằm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công phát biểu.
Tham dự tọa đàm có Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, trung tâm nghiên cứu, các hội… Mục đích tọa đàm nhằm trao đổi, đề xuất danh mục, chuỗi, cụm nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong các ngành công nghệ sinh học, công nghiệp thực phẩm, phát triển nguồn gen, công nghiệp giấy và hóa chất.
Tại tọa đàm, bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công cho biết, muốn đạt tăng trưởng hai con số, chúng ta không thể đi bằng con đường cũ. Công nghệ chiến lược phải trở thành công cụ giải bài toán lớn của từng ngành, từng lĩnh vực; phải có doanh nghiệp dẫn dắt, có thị trường, có sản phẩm cụ thể.
Ngày 12/6/2025, Chính phủ đã có Quyết định số 1131/QĐ-TTg ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược xác định 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược.
Tiếp đó, Chính phủ có Quyết định số 2815/QĐ-TTg ngày 28/12/2025 phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay.
Tuy nhiên, thực chất mới ở giai đoạn khởi đầu, chưa hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược. Tại Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026 về Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược đã nêu rõ, rà soát và hoàn thiện danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo hướng tinh gọn, tập trung vào những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với phát triển đất nước cả trước mắt và lâu dài.
Đồng thời, giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ: Quốc phòng, Công an, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Tài chính và các bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 4/2026.
Bà Nguyễn Thị Lâm Giang chia sẻ, Thông báo số 22 đã đưa ra 6 định hướng lớn. Trong đó chỉ rõ, mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược phải xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế và lợi ích lâu dài của quốc gia, đó là nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, hình thành các ngành công nghiệp mới và bảo đảm tự chủ về công nghệ trong những lĩnh vực then chốt.
Việc xác định công nghệ chiến lược cần dựa trên 3 yếu tố cơ bản: Nhu cầu phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; lợi thế, tiềm năng của các ngành công nghiệp trong nước; khả năng hình thành chuỗi giá trị và thị trường cho sản phẩm công nghệ.
Bên cạnh đó, xác định danh mục công nghệ chiến lược theo 2 nhóm: Thứ nhất, nhóm các công nghệ đã có thị trường, có thể tạo ra tác động lớn và trực tiếp đến phát triển kinh tế như: Nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, xây dựng, thép, năng lượng…
Đối với nhóm này, Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo thị trường thông qua chính sách mua sắm công và ban hành các gói hỗ trợ phù hợp; các cơ sở nghiên cứu, giáo dục đại học tham gia nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực.
Thứ hai, nhóm các công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai, công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng (như: công nghệ lượng tử, công nghệ tên lửa, lò phản ứng hạt nhân nhỏ, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế độ cao/không gian tầm thấp, vệ tinh nhỏ, UAV...). Nhà nước chủ động đầu tư, đặt hàng (mua sản phẩm hoặc nghiên cứu) và dẫn dắt; doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo tham gia phối hợp triển khai.
Như vậy, công nghệ chiến lược được coi là công cụ giải các bài toán lớn của quốc gia/ngành, tạo tăng trưởng, tự chủ và năng lực cạnh tranh.
Về yêu cầu đối với công nghệ, sản phẩm công nghệ đề xuất bổ sung vào danh sách công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, bà Nguyễn Thị Lâm Giang nhấn mạnh, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược phải gắn với nhu cầu, thị trường, sản xuất, giải quyết các bài toán thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, đo lường được bằng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, góp phần vào tăng trưởng kinh tế 2 con số.
Đồng thời, làm rõ mục tiêu phát triển, yêu cầu của từng công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược. Đối với từng công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, cần xác định rõ: Mục tiêu; chỉ tiêu đầu ra; bài toán lớn cần giải quyết; địa chỉ ứng dụng; thị trường mục tiêu; cơ hội và thách thức khi so sánh với đối thủ cạnh tranh trên thế giới; dự đoán tác động đến các lĩnh vực liên quan; cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; doanh nghiệp dẫn dắt; đơn vị sử dụng cuối; nhu cầu về hạ tầng thử nghiệm, dữ liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn, sở hữu trí tuệ; dự báo tác động và hạch toán sơ bộ hiệu quả kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định thứ tự ưu tiên, cơ chế hỗ trợ và phương thức tổ chức thực hiện; xây dựng cơ chế theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, đánh giá việc thực hiện trên phạm vi cả nước.
Thúc đẩy mạnh mẽ mối liên kết “3 nhà”
Cũng theo đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, tinh thần của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo là khoa học, công nghệ phải phục vụ trực tiếp cho phát triển ngành và lĩnh vực trọng điểm; cần chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu đơn thuần sang tư duy ứng dụng, thương mại hóa và làm chủ công nghệ. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của quản lý nhà nước và doanh nghiệp, gắn chặt với chuỗi giá trị ngành, chứ không chỉ dừng lại ở đề xuất từ phía tổ chức nghiên cứu.
PGS.TS Vũ Nguyên Thành, Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm.
Về cơ chế triển khai, Bộ Công Thương sẽ đẩy mạnh phương thức đặt hàng gắn với kết quả đầu ra cụ thể. Việc khoán chi theo sản phẩm cuối cùng sẽ được áp dụng thực chất hơn, hướng tới các sản phẩm có thể đo lường được, như công nghệ đạt mức độ sẵn sàng cao, quy trình hoàn chỉnh hoặc sản phẩm có khả năng thương mại hóa.
Bộ sẽ tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhiệm vụ. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cần có địa chỉ ứng dụng rõ ràng, có đơn vị tiếp nhận, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.
Về cơ chế phối hợp, Bộ sẽ thúc đẩy mạnh mẽ liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất trong các ngành công nghiệp, từng bước hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo theo ngành, đồng thời phát triển các cụm liên kết ngành, qua đó tập trung nguồn lực, chia sẻ hạ tầng và thúc đẩy lan tỏa công nghệ.
PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm, Chủ tịch Hội khoa học và công nghệ lương thực, thực phẩm Việt Nam cho rằng, sự phát triển của ngành Công Thương đang đứng trước bước ngoặt lịch sử khi Chính phủ quyết tâm đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng chính.
Theo PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm, công nghệ chiến lược phải đi đôi với thiết bị nội địa: Một công nghệ chỉ được coi là chiến lược khi chúng ta làm chủ được cả "phần mềm" (quy trình) và "phần cứng" (thiết bị). Việc nội địa hóa máy móc quy mô pilot công nghiệp là chìa khóa để giảm giá thành, giúp doanh nghiệp nội địa tự chủ sản xuất.
Đồng thời, thay vì đặt hàng các đề tài nhỏ lẻ, rời rạc, chúng ta cần xây dựng các chuỗi nhiệm vụ kết nối từ nguồn nguyên liệu chiến lược đến công nghệ tinh chế sâu, thiết bị nội địa hóa và sản phẩm hàng hóa có giá trị thặng dư cao.
Tại tọa đàm, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm đề xuất danh mục 6 chuỗi/cụm nhiệm vụ trọng điểm. Đây là những mũi nhọn có khả năng tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, hình thành các ngành công nghiệp mới và đảm bảo an sinh xã hội trong tình hình mới.
Cụ thể, cụm nhiệm vụ: Công nghiệp chế biến sau gạo (Post-Rice Processing); cụm nhiệm vụ: công nghệ protein thay thế (Alternative Protein); chuỗi giá trị: công nghiệp hóa học biển và nguyên liệu sinh học đại dương; chuỗi giá trị: chế biến sâu dầu thực vật và Axit béo mạch trung bình (MCT); chuỗi giá trị: công nghệ vật liệu carbon sinh học (Biocarbon Chain); chuỗi giá trị: nội địa hóa thiết bị và máy móc hóa công nghiệp (trọng tâm thực thi).
Trước đó, ngày 23/3, tọa đàm được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh.
PGS.TS Vũ Nguyên Thành, Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm (Bộ Công Thương) bày tỏ, ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam hiện nay mới chỉ sản xuất ra thực phẩm cuối cùng, còn công đoạn ở giữa chưa sản xuất được như: nguyên liệu để sản xuất thực phẩm, các chất phụ gia thực phẩm, thậm chí bao bì thực phẩm.
“Hiện nay, phần lớn giấy bao bì dùng để đóng gói sữa, nước quả và các loại đồ uống đều do Tetra Pak cung cấp. Theo tìm hiểu, chi phí bao bì chiếm tới khoảng 20% giá thành một hộp sữa. Vì vậy, nếu chủ động sản xuất được loại bao bì này trong nước thì sẽ mang lại hiệu quả rất lớn” - ông Thành nói.
Bên cạnh việc đề xuất phát triển công nghiệp sinh học phục vụ chế biến các nông - lâm sản chủ lực Việt Nam, PGS.TS Vũ Nguyên Thành cũng kiến nghị, để tăng trưởng GDP, chúng ta không phải chỉ có công nghệ là có ngay nhà máy, mà phải có một trung tâm chuyển giao công nghệ/trung tâm đổi mới sáng tạo. Viện cũng đã đề xuất xây dựng trung tâm này để các công nghệ mới của các nước, của các nhà khoa học trong nước, của viện sẽ được chuyển giao cho doanh nghiệp.
Trước đó, ngày 23/3, tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Công Thương tổ chức Tọa đàm: Xây dựng chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực Công Thương nhằm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tại tòa đàm, cũng ghi nhận nhiều ý kiến đề xuất từ các viện, trung tâm nghiên cứu, trường đại học… về việc xây dựng các chuỗi/cụm nhiệm vụ công nghệ chiến lược phục vụ phát triển ngành Công Thương nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung.