Đóng

Công nghiệp chế tạo: Nâng tỷ lệ địa hóa, tăng năng lực tham gia chuỗi

Công nghiệp chế tạo đang đứng trước yêu cầu chuyển từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng giá trị trong chuỗi sản xuất.

Gia công, lắp ráp vẫn là điểm nghẽn

Theo báo cáo của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), công nghiệp của Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Công nghiệp giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu, đưa Việt Nam từng bước trở thành một trung tâm sản xuất của khu vực. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng các ngành thâm dụng tài nguyên, lao động; tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, các ngành thâm dụng vốn và công nghệ.

 Cần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong toàn chuỗi sản xuất công nghiệp

Phát biểu tại hội thảo về hợp tác công nghiệp chế tạo Việt Nam-Hà Lan do Cục Xúc tiến thương mại do Bộ Công Thương tổ chức ngày 6/8, ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp cho biết, một số ngành công nghiệp chủ lực, nền tảng đã được hình thành và phát triển như điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, dầu khí, luyện kim, sắt thép, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy, hóa chất, xi măng và vật liệu xây dựng. Năng lực sản xuất, xuất khẩu nhiều sản phẩm được nâng lên; năm 2025 có 7 nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt kim ngạch xuất khẩu trên 15 tỷ USD.

Tuy nhiên, lãnh đạo Cục Công nghiệp cũng nêu hạn chế đang kìm hãm đà phát triển bền vững của ngành. Mô hình phát triển hiện tại vẫn chủ yếu theo chiều rộng khi sản xuất phụ thuộc nhiều vào gia công, lắp ráp, tận dụng nhân công chi phí thấp và dựa vào nguồn đầu vào nhập khẩu. Cùng với đó, tỷ lệ nội địa hóa vẫn còn rất khiêm tốn do khả năng làm chủ công nghệ lõi còn yếu; các khâu mang lại giá trị gia tăng cao nhất như nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế kiểu dáng, chế tạo thiết bị chuyên dụng và phân phối thương hiệu phần lớn vẫn do các tập đoàn FDI nắm giữ. Đáng chú ý, năng lực tự chủ của nền công nghiệp còn thấp bởi ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp vật liệu phát triển chậm, khiến các doanh nghiệp trong nước trở nên dễ bị tổn thương trước những cú sốc và biến động từ chuỗi cung ứng toàn cầu.

"Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trên là do trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp. Doanh nghiệp trong nước phần lớn có quy mô nhỏ và vừa, thiếu vốn dài hạn, hạn chế về năng lực quản trị cũng như khả năng liên kết sản xuất" ông Phạm Văn Quân nhận định.

Cũng tại hội thảo, chia sẻ thêm về nội dung này, ông Hoàng Mạnh Trung, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) cho rằng doanh nghiệp Việt Nam không nên tiếp cận thị trường theo hướng đơn lẻ mà cần hình thành các "cụm năng lực", trong đó doanh nghiệp dẫn dắt kết nối với các doanh nghiệp vệ tinh nhằm tạo nên hồ sơ năng lực đủ mạnh khi làm việc với các tập đoàn quốc tế.

Tập trung 6 giải pháp trọng tâm

Từ góc độ cơ quan quản lý, ông Phạm Văn Quân cho biết thêm, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp khoảng 28% GDP. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này, Việt Nam cần giải quyết nhiều thách thức, trong đó nổi bật là sự phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Phát triển công nghiệp trên cơ sở thị trường trong nước là nền tảng, thị trường nước ngoài là động lực quan trọng

Nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn này, ông Phạm Văn Quân đã chia sẻ về định hướng tái cấu trúc ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh: lấy thị trường trong nước làm nền tảng và thị trường quốc tế làm động lực; chuyển dịch từ gia công thuần túy sang chế biến sâu, tích hợp hệ thống và đồng thiết kế, tập trung vào 6 giải pháp:

Thứ nhất, phát triển công nghiệp trên cơ sở thị trường trong nước là nền tảng, thị trường nước ngoài là động lực quan trọng. Phát triển thị trường trong nước là nền tảng quan trọng hỗ trợ phát triển công nghiệp bền vững, song hành với định hướng đẩy mạnh xuất khẩu. Lựa chọn các ngành, sản phẩm công nghiệp có tiềm năng thị trường lớn, bảo đảm hiệu quả kinh tế trong sản xuất công nghiệp.

Thứ hai, tái cấu trúc hệ thống công nghiệp theo hướng tích hợp, bảo đảm liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ cung ứng đầu vào, sản xuất vật liệu, chế tạo, thiết kế - tích hợp đến triển khai dự án công nghiệp và kết nối thị trường. Đẩy mạnh liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước nhằm hình thành hệ sinh thái nhà cung ứng nội địa có năng lực, từng bước nâng cao mức độ tự chủ của nền công nghiệp.

Thứ ba, phát triển các ngành công nghiệp nền tảng theo hướng công nghệ cao, tự động hóa và sản xuất thông minh; chuyển dịch từ gia công, lắp ráp sang chế biến sâu và tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, phát triển vật liệu, công nghệ chế tạo và phân phối. Qua đó, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong toàn chuỗi sản xuất công nghiệp.

Thứ tư, phát triển công nghiệp theo hướng xanh, số và tuần hoàn. Thúc đẩy hình thành khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh và các mô hình sản xuất trung hòa carbon nhằm nâng cao khả năng thích ứng của nền công nghiệp trong bối cảnh chuyển dịch kinh tế toàn cầu.

Thứ năm, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ 4.0 là động lực quan trọng nhất cho phát triển công nghiệp. Chú trọng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D). Khuyến khích đổi mới sáng tạo trong sản xuất và phát triển sản phẩm có giá trị cao. Tăng cường mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học để thúc đẩy công nghệ nội địa.

Thứ sáu, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định cho việc tăng năng suất, chất lượng trong công nghiệp. Đào tạo kỹ sư, công nhân có tay nghề cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hiện đại. Hình thành đội ngũ nhân sự có khả năng tiếp nhận, làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và các tri thức quản trị doanh nghiệp hiện đại để làm hạt nhân hình thành hệ thống doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp.

Nhằm nâng cao năng lực tự chủ của ngành công nghiệp, Bộ Công Thương đang tập trung xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm, ưu tiên phát triển các lĩnh vực cơ khí chế tạo, ô tô điện, điện tử bán dẫn và thiết bị năng lượng ngoài khơi. Cùng với đó là Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2035 với mục tiêu hỗ trợ khoảng 2.000 doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Duy Anh