Đóng

Công nghiệp hỗ trợ trước cơ hội bứt phá từ chính sách mới

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 mở 'đường lớn' về chính sách, doanh nghiệp muốn bứt phá phải vượt áp lực vốn, công nghệ và chuỗi cung ứng.

Chính sách đã mở đường cho công nghiệp hỗ trợ

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035, đặt mục tiêu hình thành nền công nghiệp hỗ trợ tự chủ, hiện đại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 tỷ lệ nội địa hoá ngành dệt may đạt 60%. Ảnh minh họa

Thông điệp xuyên suốt của chương trình là công nghiệp hỗ trợ không còn là “vệ tinh” mà trở thành nền tảng của một nền công nghiệp quốc gia bền vững, có khả năng tự chủ nguyên vật liệu, linh kiện và thiết bị đầu vào.

Theo định hướng mới, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Doanh nghiệp được xác định là trung tâm của quá trình này, trong khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế, hỗ trợ khoa học, công nghệ, nguồn lực và thị trường.

Chương trình cũng đặt ra các mục tiêu rất cụ thể. Đến năm 2030, ngành điện tử đạt tỷ lệ nội địa hóa 25 - 30%, cơ khí chế tạo đạt 40%, ô tô đạt 22 - 30%, dệt may đạt 60%, da giày đạt 60 - 65%. Đến năm 2035, nhiều ngành được kỳ vọng nâng tỷ lệ nội địa hóa lên mức 40 - 70%.

Đáng chú ý, chương trình không chỉ nhấn mạnh bài toán công nghệ mà còn hướng tới hình thành các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hạt nhân, đủ năng lực trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn trong nước và quốc tế.

Muốn vào chuỗi FDI phải đủ sức cạnh tranh và chịu áp lực

Chính sách đã mở “đường lớn”, câu chuyện còn lại là năng lực hành động và sức bật thực tế của doanh nghiệp Việt. Tại Hội nghị "Xây dựng đề cương giải pháp thực hiện sản xuất kinh doanh doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số thành phố Hà Nội", ông Nguyễn Thanh Hải - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần EMIN Việt Nam chia sẻ, tham gia chuỗi cung ứng FDI không chỉ là bài toán sản xuất mà còn là cuộc cạnh tranh khốc liệt về tài chính và quản trị.

Theo ông Hải, phần lớn doanh thu của nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam hiện nay đến từ khối khách hàng Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), trong khi tiếp cận doanh nghiệp Nhật Bản hay Hàn Quốc khó khăn hơn nhiều. “Muốn tham gia chuỗi cung ứng FDI phải đáp ứng hai điều kiện quan trọng nhất là giá cạnh tranh và sức chịu đựng tài chính”, ông Hải nói.

Thực tế, thời gian thanh toán của các tập đoàn lớn có thể kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm, tạo áp lực rất lớn lên dòng tiền. Trong khi đó, các tập đoàn FDI thường đã có hệ thống nhà cung cấp ổn định và không dễ mở rộng thêm đối tác mới. Không ít doanh nghiệp Việt phải “đi đường vòng”, thông qua các nhà cung cấp trung gian để từng bước tham gia chuỗi. Tuy nhiên, ngay cả khi có cơ hội, việc duy trì tiêu chuẩn chất lượng, tài chính và quản trị vẫn là áp lực rất lớn.

Theo đại diện EMIN Việt Nam, đây là “cuộc chơi” đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ có năng lực sản xuất mà còn phải có bản lĩnh và khả năng chấp nhận đầu tư dài hạn. Một thực tế đáng chú ý là nhiều doanh nghiệp trong nước dù đã có quy mô nhất định nhưng lại không muốn mở rộng quá nhanh do lo ngại rủi ro tài chính, quản trị và cả áp lực pháp lý. “Doanh nghiệp cần dám đầu tư, dám mở rộng sản xuất, nhưng phải trong môi trường minh bạch và ổn định để rủi ro kinh tế không bị chuyển thành rủi ro pháp lý”, ông Hải chia sẻ.

Ở góc độ quản trị, doanh nghiệp cũng nhìn nhận yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa hệ thống vận hành, phát triển con người và ứng dụng công nghệ. Theo đó, thay vì tái cấu trúc theo chu kỳ dài, doanh nghiệp phải điều chỉnh liên tục theo tuần, theo tháng để thích ứng nhanh với biến động thị trường.

Từ góc nhìn xúc tiến đầu tư, ông Trần Quang Hội, nhà sáng lập Công ty EcoBuy cho rằng, các doanh nghiệp nước ngoài đang hành động rất nhanh để tận dụng cơ hội tại Việt Nam. Theo ông Hội, nhiều doanh nghiệp Ấn Độ chỉ sau vài cuộc trao đổi đã lập tức sang Việt Nam khảo sát và triển khai đầu tư. Điểm nổi bật là sự chủ động, linh hoạt và tốc độ ra quyết định rất cao. “Có doanh nghiệp thuê 5.000 - 6.000 m² nhà xưởng, đưa thiết bị vào lắp đặt và hoàn tất triển khai chỉ trong khoảng hai tháng”, ông Hội cho biết.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn còn tâm lý thận trọng, chậm ra quyết định và thiếu sự chủ động trong kết nối thị trường. Theo ông Hội, nhu cầu tìm kiếm nhà cung ứng tại Việt Nam hiện rất lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực như MRO (bảo trì, sửa chữa và vận hành), xe điện hay công nghiệp hỗ trợ cho ngành điện tử. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt khi doanh nghiệp Trung Quốc đang mở rộng mạnh hệ sinh thái sản xuất tại Việt Nam. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp nội địa là phải chủ động nâng cao năng lực, chuẩn hóa quản trị và tham gia sâu hơn vào các hoạt động kết nối đầu tư.

Ở góc độ hiệp hội, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thành phố Hà Nội cho rằng, cơ hội hiện nay phải được nhìn bằng năng lực thực chất chứ không chỉ là những kỳ vọng chung chung.

Theo ông Nguyễn Hoàng, với quy mô nền kinh tế khoảng 500 tỷ USD và dân số hơn 100 triệu người, Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển, nhưng giá trị doanh nghiệp trong nước thực sự tạo ra vẫn chưa tương xứng khi khu vực FDI đang chiếm tỷ trọng lớn. “Cốt lõi là phải chuyển hóa cơ hội thành năng lực thực chất của doanh nghiệp nội địa”, ông Nguyễn Hoàng nhấn mạnh.

Theo đó, công nghiệp hỗ trợ muốn phát triển phải đồng thời giải quyết nhiều bài toán: vốn, hạ tầng, lao động, công nghệ và cải cách thủ tục hành chính. Đặc biệt, yêu cầu số hóa sản xuất được xem là yếu tố bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Doanh nghiệp phải minh bạch toàn bộ quy trình sản xuất, truy xuất được dữ liệu theo thời gian thực và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.

Từ thực tế đó, nhiều ý kiến cho rằng, đã đến lúc công nghiệp hỗ trợ Việt Nam không thể chỉ dừng ở vai trò gia công hay cung ứng đơn lẻ, mà phải chuyển sang tư duy xây dựng hệ sinh thái sản xuất, hình thành các cụm liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và FDI. Khi “đường lớn” về chính sách đã mở, yếu tố quyết định thành công sẽ nằm ở tốc độ chuyển động của doanh nghiệp và khả năng biến cơ hội thành năng lực cạnh tranh thực sự.

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 đặt mục tiêu đến năm 2030, tập trung phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng trong các ngành điện tử, năng lượng, đường sắt, cơ khí, ô tô, công nghệ cao, dệt may, da giày; từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao tự chủ công nghiệp và hướng tới tăng trưởng hai con số.

Đến năm 2035, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phấn đấu đạt trình độ công nghệ tiên tiến, tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu, chủ động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và nâng tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành lên 35 - 70%.

Nguyễn Hạnh