Đóng

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Từ gia công đến làm chủ công nghệ

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang chuyển mình từ gia công linh kiện đơn giản sang chế tạo sản phẩm công nghệ cao nhờ nội lực doanh nghiệp và chính sách hỗ trợ.

Chuyển mình từ vị thế “vệ tinh sản xuất” sang “đối tác cung ứng giá trị cao”

Là nền tảng của các ngành sản xuất chế tạo, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế. Sau hơn hai thập kỷ phát triển, nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã trưởng thành, từ sản xuất linh kiện đơn giản đến tham gia vào những công đoạn có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng.

Bộ Công Thương đang nghiên cứu ban hành thêm các chính sách ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.  Ảnh: Cấn Dũng

Theo Bộ Công Thương, hiện cả nước có hơn 2.000 doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, trong đó hơn 300 doanh nghiệp đang tham gia vào chuỗi cung ứng đa quốc gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có sản xuất ô tô, xe máy.

Đánh giá về ngành công nghiệp hỗ trợ, ông Phạm Hải Phong - Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam nhìn nhận, nhiều doanh nghiệp đã đạt trình độ sản xuất cụm linh kiện phức tạp, lắp ráp bảng mạch PCBA, phát triển hệ thống trạm sạc và dây chuyền tự động hóa, cung cấp sản phẩm cho cả doanh nghiệp FDI lẫn doanh nghiệp Việt Nam đầu cuối. Những tiến bộ này khẳng định năng lực công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang chuyển mình từ vị thế “vệ tinh sản xuất” sang “đối tác cung ứng giá trị cao”, tạo nền tảng cho mục tiêu vươn ra thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, ông Phạm Hải Phong cũng chỉ ra, thực tế, trong chuỗi cung ứng các ngành chế tạo, Việt Nam đã tham gia vào hầu hết các công đoạn của chuỗi giá trị, song mức độ tham gia giữa các khâu còn chênh lệch. Các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam hiện chủ yếu tham gia ở khâu sản xuất linh kiện, phụ tùng - tức là phần giữa của chuỗi giá trị, từ sản xuất linh kiện rời đến sản xuất cụm linh kiện.

Ông Nguyễn Vân - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA) cho rằng, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ muốn phát triển bền vững không thể đứng riêng lẻ, cũng không thể chỉ dựa vào nỗ lực nội tại. “Muốn công nghiệp hỗ trợ phát triển, không thể chỉ có doanh nghiệp, mà phải có cả chính quyền, hiệp hội, các viện nghiên cứu và trường đào tạo cùng tham gia”.

Từ phía địa phương, Hà Nội được đánh giá là một trong những địa phương chủ động nhất trong việc tạo không gian và điều kiện để các mối liên kết này hình thành. Thông qua Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, cùng các hoạt động xúc tiến thương mại, hội nghị kết nối cung cầu và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới, Hà Nội giữ vai trò “mở đường” cho doanh nghiệp gặp được đối tác phù hợp và tiếp cận các yêu cầu thị trường. Thành phố không chỉ hỗ trợ thủ tục hay cơ chế, mà còn chú trọng xây dựng môi trường thúc đẩy sự hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI - yếu tố được xem là chìa khóa nâng cao năng lực nội tại.

Doanh nghiệp chủ động đầu tư chiều sâu, chuẩn hóa quy trình

Theo các chuyên gia, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cần chuyển từ tư duy tham gia sang tư duy dẫn dắt chuỗi giá trị. Không thể mãi dừng ở vai trò cung cấp linh kiện cấp hai, cấp ba, doanh nghiệp Việt Nam phải tiến tới tham gia sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, đầu tư ra nước ngoài và phát triển thương hiệu riêng trong những lĩnh vực thế mạnh như cơ khí chính xác, điện tử hay năng lượng mới. Đối với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phải chủ động hơn trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư chiều sâu và chuẩn hóa quy trình. Tuy nhiên, để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cần thêm những cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Dưới góc độ địa phương, ông Nguyễn Vân đề xuất đẩy mạnh hơn nữa hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp - hiệp hội, viện, trường - cơ quan quản lý. Ông nhấn mạnh việc phát huy vai trò cầu nối của HANSIBA trong các chương trình xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực và hỗ trợ thủ tục cho các dự án công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh đó, các mô hình như Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội cần được triển khai mạnh mẽ hơn, bởi đây sẽ là không gian thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, dịch vụ kỹ thuật và cơ hội hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài. Các hoạt động khảo sát nhà máy, hỗ trợ thử nghiệm, kiểm định và tư vấn cải tiến cần được mở rộng để nhiều doanh nghiệp có thể tiếp cận hơn.

Nêu vấn đề, TS. Trương Thị Chí Bình, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cho rằng, trọng tâm cần đặt vào việc cung cấp môi trường thuận lợi nhất, đặc biệt là giảm chi phí đầu vào cho sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Điều này bao gồm việc đảm bảo quỹ đất sản xuất phù hợp với quy mô công nghiệp với giá thuê và hạ tầng hợp lý; mở rộng các gói tín dụng ưu đãi trung và dài hạn cho đầu tư máy móc, công nghệ và nhà xưởng; cũng như phát triển hệ thống đào tạo và cung ứng nhân lực kỹ thuật với chi phí và chất lượng phù hợp. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực doanh nghiệp, chuyển đổi số và kết nối chuỗi cung ứng cần được thiết kế theo hướng thực chất và dài hạn. Đặc biệt, thủ tục xác nhận doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ cần được đơn giản hóa để các doanh nghiệp được xác nhận dễ dàng. Điều này đảm bảo mục tiêu thực thi của chính sách, tạo niềm tin cho doanh nghiệp.

Từ phía doanh nghiệp, yêu cầu cấp thiết là chuyển đổi mô hình phát triển. Thay vì tập trung vào sản xuất linh kiện rời cho một vài ngành, nếu muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, cần từng bước tham gia vào sản xuất cụm linh kiện, tiến tới lắp ráp theo năng lực sản xuất thiết bị gốc (OEM) khi điều kiện cho phép. Quá trình này đòi hỏi đầu tư dài hạn, sự tích lũy về công nghệ, quản trị và thị trường, nhưng là con đường tất yếu để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Song song với đó là chiến lược đa dạng hóa khách hàng, lựa chọn phân khúc phù hợp với năng lực cốt lõi và chủ động mở rộng ra thị trường quốc tế. Sự sẵn sàng đầu tư, cả về tài chính lẫn nguồn lực quản trị, sẽ quyết định khả năng tận dụng cơ hội trong giai đoạn tới.

Đối với cơ quan quản lý, ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, cho biết Bộ đang nghiên cứu ban hành thêm các chính sách ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, gồm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu thiết bị, hỗ trợ tín dụng lãi suất thấp cho dự án đổi mới máy móc, tự động hóa dây chuyền. Đồng thời, Bộ phối hợp thúc đẩy hình thành quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa mạnh dạn ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại.

Theo TS. Trương Thị Chí Bình, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Giai đoạn 2026 – 2030, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam có thể bước sang giai đoạn phát triển mạnh, có thực sự trở thành nền tảng cho công nghiệp hóa hay không, phụ thuộc vào những quyết định và hành động cụ thể được thực hiện trong năm 2026 này.

Duy Anh