Đóng

Công nghiệp Lâm Đồng tạo động lực phát triển cho cả vùng Tây Nguyên

Lâm Đồng đang trở thành địa phương chiếm vị trí quan trọng trong chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu, góp phần đưa khu vực Tây Nguyên tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Công nghiệp năng lượng là nền tảng phát triển bền vững

Ngày 10/5, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Bá Út, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, ngành công nghiệp của Lâm Đồng đã và đang chuyển mình mạnh mẽ, trở thành trụ cột tăng trưởng của tỉnh và làm hiệu ứng lan tỏa tích cực tới sự phát triển kinh tế của cả vùng. Từ việc khai thác tài nguyên bền vững đến phát triển chế biến sâu, công nghiệp Lâm Đồng đang là nhân tố quan trọng trong chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu hàng hóa, góp phần đưa khu vực Tây Nguyên tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030.

Năm 2025, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Lâm Đồng ước tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, vượt xa mức tăng của khu vực Tây Nguyên trung bình (khoảng 3,2%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,5%, đóng góp lớn nhất vào chỉ số IIP; sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 2,01%; ngành khai khoáng tăng 10,46%...

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Lâm Đồng ước tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, vượt xa mức tăng của khu vực Tây Nguyên trung bình (khoảng 3,2%) trong năm 2025. Ảnh: Lê Sơn

Những con số trên cho thấy vị thế ngày càng rõ nét của công nghiệp chế biến trong nền kinh tế tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là nhóm các sản phẩm công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Một số sản phẩm chủ yếu, chủ lực tăng so với cùng kỳ như: Đá xây dựng ước đạt 4.199.087 m3, tăng 10,21% so với cùng kỳ; rau, quả qua chế biến, bảo quản ước đạt 37.063 tấn, tăng 17,52%. Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản ước đạt 22.584 tấn, tăng 0,03%; giày, dép ước đạt 6.548 nghìn đôi, tăng gấp 1,78 lần. Sản phẩm phân bón ước đạt 127.695 tấn, tăng 22,71%; ôxit nhôm ước đạt 1.584,396 nghìn tấn, tăng 4,39%; điện sản xuất ước đạt 36.652 triệu kwh, tăng 2,04% so với cùng kỳ. Cho thấy đều gia tăng mạnh cả về sản lượng và thị phần tiêu thụ.

Đáng chú ý, ngành chế biến cà phê, sản phẩm chủ lực của tỉnh, dù mới chế biến sâu chiếm khoảng 5% sản lượng nguyên liệu, nhưng với 194 cơ sở chế biến, trong đó có 25 cơ sở chế biến cà phê nhân với năng lực chế biến 239.661 tấn/năm, đang mở ra dư địa lớn cho đầu tư chế biến sâu, xuất khẩu và liên kết vùng.

Theo ông Nguyễn Bá Út, Lâm Đồng đang sở hữu tiềm năng năng lượng lớn, đặc biệt về năng lượng tái tạo. Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021–2030 xác định trên địa bàn tỉnh có 71 dự án nguồn điện, gồm điện gió, điện mặt trời, điện khí LNG, thủy điện… với tổng công suất dự kiến áp đảo các tỉnh Tây Nguyên.

Một dự án điện năng lượng mặt trời tại tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Lê Sơn

Trong đó, năng lượng tái tạo (điện mặt trời + điện gió) dự kiến đạt hơn 5.200 MW đến 2030; các dự án điện mặt trời lớn như Buôn Tua Srah (312 MW), Cư Knia (144 MW) tạo điểm nhấn trong bản đồ năng lượng vùng; nhà máy điện LNG Sơn Mỹ I & II và điện than Vĩnh Tân III đóng vai trò bổ trợ an ninh năng lượng cho toàn khu vực.

Việc phát triển nguồn điện đồng bộ không chỉ phục vụ nhu cầu nội tỉnh mà còn hỗ trợ các tỉnh lân cận, góp phần quan trọng trong kế hoạch tăng trưởng năng lượng sạch, giảm phát thải và tạo động lực cho công nghiệp chế biến mở rộng quy mô.

Lâm Đồng được quy hoạch là một trong những trung tâm khai thác bô xít – alumin – nhôm trọng điểm của cả nước. Theo Quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt, tỉnh có khoảng 15 đề án thăm dò khoáng sản bô xít, với trữ lượng tiềm năng quy hoạch lên tới 1,7 tỷ tấn quặng; dây chuyền nhà máy alumin tại Nhân Cơ và Tân Rai đang vận hành ổn định với công suất khoảng 1.500.000 tấn alumin/năm.

Lâm Đồng là một trong các trung tâm khai thác bauxite trọng điểm của cả nước. Ảnh: Lê Sơn

Dự án điện phân nhôm Đắk Nông giai đoạn I vận hành từ năm 2026 với công suất 150.000 tấn/năm, dự kiến đạt 450.000 tấn/năm khi hoàn thiện toàn bộ giai đoạn.

Hướng phát triển không chỉ dừng lại ở khai thác mà mở rộng sang chế biến sâu alumin, nhôm và các sản phẩm từ titan, bentonite, diatomit… đang tạo chuỗi giá trị bền vững, tăng thu ngân sách và thu hút đầu tư chiến lược.

Đóng góp vào phát triển địa phương và liên kết vùng

Bên cạnh đó, hạ tầng các khu, cụm công nghiệp tại Lâm Đồng được xây dựng dần hoàn thiện, nâng cao tỷ lệ lấp đầy với 29 Khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích 9.411,35 ha. Đến nay, 15 khu đang hoạt động, có 231 dự án (53 dự án FDI và 178 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.997,6 tỷ đồng và 509,94 triệu USD, diện tích đất đăng ký 731,45 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 52,85% (731,45/1.383,9); còn14 KCN đang tiếp tục thu hút nhà đầu tư hạ tầng với tổng diện 5458,57ha.

Trên địa bàn tỉnh được quy hoạch 67 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 2.620,18 ha; trong đó, có 23 CCN đã có nhà đầu tư hạ tầng với diện tích quy hoạch là 819,1 ha, chiếm trên 32% diện tích quy hoạch; thu hút được 170 nhà đầu tư thứ cấp với diện tích cho thuê là 268,91 ha; 44 CCN còn lại chưa có chủ đầu tư với diện tích 1.801,08 ha, trong đó có 05 CCN có 42 nhà đầu tư thứ cấp hiện hữu với diện tích sử dụng 60,99 ha.

Tổng số dự án đăng ký đầu tư hoạt động trong các khu, cụm nghiệp là 443 dự án; một số KCN đạt tỷ lệ lấp đầy trên 80% (Lộc Sơn, Phú Hội, Tâm Thắng, Nhân Cơ, Phan Thiết giai đoạn I, Phan Thiết giai đoạn II); các dự án đầu tư thứ cấp vào các khu, cụm công nghiệp đa dạng về ngành nghề, quy mô và trình độ công nghệ.

Theo đó, công nghiệp phát triển đã và đang tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với toàn bộ nền kinh tế Lâm Đồng, tạo việc làm chất lượng cho hàng chục nghìn lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn; gắn kết nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, đặc biệt trong chế biến nông sản; tăng giá trị xuất khẩu, nhất là mặt hàng rau quả chế biến, đồ uống, phân bón, sản phẩm alumin; huy động vốn đầu tư lớn vào hạ tầng khu, cụm công nghiệp, tạo quỹ đất sạch và môi trường kinh doanh thuận lợi.

Mặt khác, định hướng liên kết vùng được tỉnh chú trọng, với hệ thống giao thông đường bộ, hàng không, thủy nội địa và cảng biển phát triển; kết nối các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, TP. Hồ Chí Minh bao gồm Cảng hàng không Quốc tế Liên Khương; Quốc lộ 1, đường ĐT722, ĐT725; Quốc lộ 20, Quốc lộ 28b; Cao tốc Cam Ranh - Vĩnh Hảo, Vĩnh Hảo - Phan Thiết,...ngày càng hoàn chỉnh đã giúp hàng hóa công nghiệp từ Lâm Đồng và khu vực Tây Nguyên lưu thông thuận lợi trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

Khu công nghiệp Chế biến tập trung khoáng sản titan Sông Bình, xã Lương Sơn, tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Lê Sơn

Dự báo giai đoạn 2026 – 2030, ngành công nghiệp của Lâm Đồng sẽ tiếp tục là “đầu tàu” trong cơ cấu kinh tế địa phương và lan tỏa cho khu vực Tây Nguyên. Bộ chỉ tiêu đặt ra cho giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng GRDP khu vực công nghiệp, xây dựng bình quân từ 14,5% – 15,5%/năm, trong đó riêng khu vực công nghiệp phấn đấu đạt 14,5%.

Để đạt được mục tiêu này, tỉnh tiếp tục tập trung, thu hút đầu tư dự án công nghiệp sản xuất, chế biến công nghệ cao; phát triển liên kết vùng, hình thành các chuỗi giá trị lớn cho sản phẩm chủ lực; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ số vào sản xuất; phát triển công nghiệp xanh, thân thiện môi trường; mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước thông qua các hiệp định thương mại tự do (EVFTA, CPTPP).

Công nghiệp Lâm Đồng đã và đang đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng GRDP và ngân sách địa phương, bên cạnh đó, tạo ra tác động lan tỏa rõ nét đối với phát triển kinh tế, xã hội khu vực Tây Nguyên. Với nền tảng hạ tầng, tiềm năng tài nguyên, chiến lược phát triển bài bản, công nghiệp Lâm Đồng sẽ tiếp tục là trụ cột quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bền vững, góp phần đưa Tây Nguyên trở thành một động lực mới của phát triển kinh tế quốc gia trong giai đoạn tới.

Lê Sơn - Duy Tín