Cắt giảm điều kiện kinh doanh và sửa luật là hai vế của cùng một cuộc cải cách thể chế. Ảnh: Nam Nguyễn
Con số được nhắc nhiều nhất nửa đầu năm 2026 của ngành Công Thương không nằm ở sản lượng điện hay kim ngạch xuất khẩu, mà ở một phép chia: 367 trên 658 điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ đã được cắt giảm trên tổng số rà soát, tương đương 55,7%, theo dự thảo Báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Đảng uỷ Bộ Công Thương (mục 3.1, bản cung cấp ngày 24/6/2026). Thông tin này được Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhắc lại tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu ngày 25/6/2026, kèm 111 thủ tục hành chính bị bãi bỏ và 177 thủ tục được đơn giản hoá.
Cộng lại, 288 thủ tục hành chính đã đổi trạng thái trong sáu tháng. Dự thảo báo cáo của Đảng uỷ Bộ đã định lượng giá trị của việc cắt giảm đó đã giúp chi phí tuân thủ giảm hơn tức 491,3 tỷ đồng, đạt 32,02% so với năm 2024; thời gian giải quyết giảm được 3.236 ngày quy đổi, đạt 69,46% so với năm 2025; cắt giảm 55,34% thủ tục hành chính và phân cấp 95,5% thủ tục.
Bên cạnh việc cắt giảm là xây dựng hành lang pháp lý. Cũng theo dự thảo ấy, sáu tháng đầu năm Bộ trình cấp có thẩm quyền 39 trên 54 văn bản quy phạm pháp luật được giao chủ trì, đạt 72%, gồm 1 luật, 31 nghị định, 2 nghị quyết của Chính phủ và 5 quyết định, trong đó 13 văn bản đã ban hành. Riêng quý I/2026, Bộ trình Chính phủ 4 nghị định và ban hành 12 thông tư theo thẩm quyền.
Sáu thước đo cải cách của Bộ Công Thương, 6 tháng đầu năm 2026
Nếu cắt giảm điều kiện kinh doanh là thước đo hướng ra ngoài, tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ là thước đo hướng vào trong. Hội nghị lần thứ ba Ban Chỉ đạo của Bộ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 (họp ngày 10/7/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng chủ trì) cho biết: Bộ đã hoàn thành 178 trên 287 nhiệm vụ được giao, 109 nhiệm vụ còn lại đúng tiến độ, không tồn đọng hay quá hạn; phép chia của toà soạn cho tỷ lệ 62,0%. Cùng bài ghi nhận Bộ thuộc nhóm ba bộ, ngành dẫn đầu về phục vụ người dân và doanh nghiệp; hồ sơ trực tuyến xấp xỉ 99%; 265 dịch vụ công tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% cán bộ, công chức được chuẩn hoá kỹ năng số.
Đáng chú ý hơn con số là cách con số được yêu cầu đọc. Bộ trưởng nhấn mạnh chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” hành chính sang “quản trị” hiện đại; thước đo hiệu quả không dừng ở tỷ lệ hoàn thành kế hoạch mà nằm ở chất lượng sản phẩm thực tế và khả năng tối ưu hoá nguồn lực, từ khu vực FDI, doanh nghiệp tư nhân tới hệ thống nghiên cứu, đào tạo và sản xuất trong ngành. 178 trên 287 vì thế là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ. Mọi công việc tới cuối năm tuân thủ nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ hiệu quả. Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, được giao xây dựng tiêu chí đo lường, hoàn thành trước 30/7/2026, đồng thời làm đầu mối cập nhật ba bài toán lớn (an ninh năng lượng; tự chủ công nghiệp và nâng cao nội địa hoá; hiện đại hoá thương mại bằng dữ liệu và logistics thông minh), 6 công nghệ và 16 sản phẩm công nghệ chiến lược.
Các dự án luật của ngành Công Thương năm 2026, trạng thái tới 18/8/2026
Cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính có thể được thực hiện thông qua nghị định, thông tư; nhưng để thay đổi căn bản phương thức vận hành của một ngành, yêu cầu đặt ra là phải cải cách từ nền tảng pháp luật. Đây cũng là hướng đi đang được Bộ Công Thương thúc đẩy nhằm vừa tháo gỡ những rào cản trước mắt, vừa kiến tạo khuôn khổ thể chế cho một giai đoạn phát triển mới.
Tại buổi làm việc với Bộ Công Thương ngày 22/4/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Bộ khẩn trương hoàn thiện các dự án luật để trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, gồm: Luật Dầu khí (sửa đổi), Luật sửa đổi các luật về thương mại, Luật sửa đổi Luật Điện lực và Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Cùng với đó, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP thông qua chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm, Thủ tướng yêu cầu Bộ hoàn thiện dự thảo luật để trình Quốc hội tại cùng kỳ họp.
Yêu cầu cải cách không chỉ dừng ở xây dựng luật. Thủ tướng đồng thời yêu cầu hoàn thành việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh ngay trong tháng 4; tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc “một việc, một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm”. Như vậy, cải cách được triển khai đồng thời ở hai tầng: xử lý những rào cản đang cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh và sửa đổi nền tảng pháp lý để mở rộng không gian phát triển trong dài hạn.
Trong 5 dự án luật này, Luật Dầu khí (sửa đổi) được đẩy nhanh tiến độ. Sáng 3/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). Dự thảo gồm 12 chương, 62 điều, so với 11 chương, 69 điều của luật hiện hành; cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026, trong đó đặt trọng tâm vào đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, phân quyền và giao quyền chủ động.
Quá trình hoàn thiện dự luật sau đó được triển khai với nhịp độ khẩn trương. Chiều 4/8, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng giải trình, làm rõ các vấn đề được đại biểu nêu tại phiên thảo luận Tổ 11; chiều 8/8, tiếp tục giải trình tại hội trường; đến chiều 17/8, dự án luật được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét việc tiếp thu, chỉnh lý. Theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, riêng các phiên thảo luận ngày 4 và 8/8 đã ghi nhận 66 ý kiến tại tổ và 16 ý kiến tại hội trường, tổng cộng 82 lượt ý kiến đóng góp cho dự án luật.
Một trong những nội dung xuyên suốt được Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh trong quá trình hoàn thiện Luật Dầu khí (sửa đổi) là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng phải gắn với phân định rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, giám sát. Theo hướng này, thẩm quyền giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) được rà soát, phân định phù hợp với tính chất của từng nhóm công việc. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung quyết định những vấn đề lớn, có tính chiến lược; Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành; Petrovietnam, với vị trí và chức năng đặc thù trong hoạt động dầu khí, được giao thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể theo quy định của pháp luật.
Đi cùng với phân cấp, phân quyền là yêu cầu tăng cường hậu kiểm. Dự thảo luật thiết kế cơ chế kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm quyền hạn được giao đi đôi với trách nhiệm, hạn chế khoảng trống quản lý và kiểm soát rủi ro trong quá trình triển khai các hoạt động dầu khí. Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý, Chính phủ tiếp tục làm rõ, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; đồng thời xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm và cơ chế báo cáo của Petrovietnam.
Nếu Luật Dầu khí (sửa đổi) được thúc đẩy với tiến độ nhanh, việc hoàn thiện một số dự án luật khác của ngành Công Thương được triển khai theo lộ trình riêng. Đối với Luật Điện lực, tại họp báo thường kỳ quý II/2026 của Bộ Công Thương ngày 7/7, lãnh đạo Cục Điện lực cho biết hồ sơ dự án luật đang trong quá trình lấy ý kiến, hoàn thiện để thực hiện các bước thẩm định theo quy định.
Với Luật Công nghiệp trọng điểm, tiến trình chuẩn bị cũng đã có những bước đi cụ thể. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 3/4/2026 thông qua hai nhóm chính sách của Luật, Bộ Công Thương thành lập Tổ soạn thảo, Tổ biên tập; tổ chức lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan. Đến ngày 21/7, Bộ đã công bố bảng tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến đối với hồ sơ dự án Luật. Như vậy, đến giữa tháng 8/2026, dự án Luật Công nghiệp trọng điểm đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ và thực hiện các bước của quy trình xây dựng luật.
Các con số ở trên đo khối lượng công việc đã làm. Còn một cách đo khác, sát hơn với câu hỏi mà một người đứng đầu sẽ đặt: những việc Chính phủ giao đích danh bằng văn bản, có thời hạn cụ thể đã được thực hiện đến đâu. Phụ lục V Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 giao Bộ Công Thương tám nhiệm vụ như vậy.
Chuỗi văn bản điều hành nội bộ của Bộ Công Thương đầu năm 2026
Yêu cầu ấy có địa chỉ chỉ đạo rõ ràng ở cấp cao nhất. Tại Phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 6/2026 ngày 27/6/2026 do Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được nhắc lại nguyên văn: “Phải coi việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh bất hợp lý là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, không chỉ thực hiện trong các chiến dịch ngắn hạn”. Hai chữ “thường xuyên, liên tục” đặt ra một thước đo khác: không chỉ là đã cắt giảm được bao nhiêu thủ tục, điều kiện kinh doanh trong một đợt, mà quan trọng hơn là cơ chế nào bảo đảm quá trình rà soát, cắt giảm tiếp tục được duy trì sau khi đợt cải cách kết thúc.
Quản trị hiện đại còn được đo bằng số giấy tờ mà bộ máy tự sinh ra. Ngày 26/5/2026, Bộ trưởng ký Quyết định số 1227/QĐ-BCT ban hành Kế hoạch của Bộ triển khai Quyết định số 534/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 của Thủ tướng, tức kế hoạch thực hiện Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về chấn chỉnh lề lối làm việc. Kế hoạch dẫn thêm Công văn số 527-CV/ĐUB ngày 30/1/2026 của Đảng uỷ Bộ và phân công 10 nhóm nhiệm vụ, mỗi dòng có đơn vị chủ trì, phối hợp và thời hạn.
Trong 10 nhóm ấy có những chỉ tiêu đo được: mỗi năm từ 2026 cắt giảm tối thiểu 15% số văn bản hành chính so với năm trước, Văn phòng Bộ được giao tổng hợp; xử lý thủ tục hành chính trên môi trường số và số hoá văn bản từ 95% trở lên, 100% văn bản không mật gửi nhận điện tử; hoàn thiện quy chế làm việc theo nguyên tắc “một việc một đầu mối, 6 rõ”; đưa kết quả thực hiện Kết luận 226 vào tiêu chí đánh giá người đứng đầu và thi đua khen thưởng hằng năm.
Ở cấp Đảng ủy, ngày 5/6/2026, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Công Thương ban hành Nghị quyết số 52-NQ/ĐUB, phê duyệt Chiến lược hoàn thiện pháp luật ngành Công Thương đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong khuôn khổ chiến lược này, một trong những trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật về công nghiệp, tập trung vào ba nhóm lĩnh vực: công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp trọng điểm.
Muốn giám sát “dựa trên dữ liệu” như thiết kế của Luật Dầu khí sửa đổi, trước hết Bộ phải có dữ liệu của chính mình. Ba quyết định trong sáu tuần đầu năm 2026 đặt nền cho việc đó gồm: Quyết định số 235/QĐ-BCT ban hành Khung kiến trúc dữ liệu của Bộ theo Quyết định số 2439/QĐ-TTg ngày 4/11/2025; Quyết định số 405/QĐ-BCT ngày 9/3/2026 ban hành Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026 tới 2030 với mục tiêu “Bộ Công Thương số hoạt động dựa trên dữ liệu và công nghệ số”; Quyết định số 447/QĐ-BCT ngày 12/03/2026 của Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch chuyển đổi số năm 2026.
Kế hoạch năm 2026 đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể: 100% cán bộ, công chức, viên chức được cấp chữ ký số chuyên dùng; hồ sơ xử lý toàn trình đạt 80%; 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện cung cấp trực tuyến toàn trình; 50% cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin được đào tạo về quản trị dữ liệu; tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp tối thiểu 95%. Kế hoạch đồng thời xác định rõ những dư địa cần tiếp tục cải thiện để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số: từng bước đồng bộ các cơ sở dữ liệu được xây dựng qua nhiều giai đoạn, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị và tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ nhân lực số.
Tới Hội nghị lần thứ ba của Ban Chỉ đạo Bộ Công Thương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 ngày 10/7/2026, mục tiêu tiếp tục được Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ đạo cụ thể: Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số được giao đề xuất nâng cấp hệ thống quản lý văn bản nội bộ IMOIT với tính năng cảnh báo, nhắc việc, theo dõi tiến độ, bố trí kinh phí trong kế hoạch 2027. Ở phía thị trường, Bộ đã vận hành nền tảng số phát triển thị trường nước ngoài, đang xây dựng hệ thống dữ liệu cảnh báo sớm phòng vệ thương mại và nghiên cứu Luật Phòng vệ thương mại riêng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra một thước đo cụ thể đối với dịch vụ công: đến năm 2030, tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%. Điểm đáng chú ý là chỉ tiêu này đo từ phía người sử dụng, thay vì chỉ đo từ phía cơ quan cung cấp dịch vụ. Vì vậy, số lượng thủ tục đã được đưa lên môi trường trực tuyến chưa phản ánh đầy đủ mức độ chuyển đổi số nếu người dân, doanh nghiệp vẫn chủ yếu thực hiện theo phương thức trực tiếp.
Sự khác biệt giữa hai cách đo cũng là cơ sở để nhìn kỹ hơn mục tiêu 80% hồ sơ được xử lý trực tuyến toàn trình của ngành Công Thương. Một thủ tục được cung cấp trực tuyến mới phản ánh khả năng cung ứng; số hồ sơ thực tế được người dân, doanh nghiệp thực hiện trực tuyến mới cho thấy mức độ sử dụng. Khoảng cách giữa hai con số này chính là một trong những thước đo thực chất của chuyển đổi số: dịch vụ công không chỉ được đưa lên môi trường số mà phải được sử dụng thuận tiện, thường xuyên và thay thế ngày càng nhiều cho phương thức nộp hồ sơ trực tiếp.
Việc cắt giảm 367 trên 658 điều kiện kinh doanh đặt ra một câu hỏi kỹ thuật mà nhiều nước cùng phải giải: cắt bao nhiêu thì đủ, rồi cắt xong thì quản bằng gì?
Kinh nghiệm của Indonesia cho thấy một cách tiếp cận đáng tham khảo. Hệ thống cấp phép kinh doanh trực tuyến của nước này được thiết kế theo mức độ rủi ro của hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp được phân theo 4 mức rủi ro; từ đó xác định yêu cầu về đăng ký, chứng nhận, giấy phép và các nghĩa vụ tương ứng. Thay vì áp dụng cùng một mức độ quản lý cho mọi hoạt động, mức độ can thiệp của cơ quan quản lý được điều chỉnh theo mức độ rủi ro.
Một cấu phần quan trọng của hệ thống là mã số định danh doanh nghiệp (NIB), đóng vai trò mã nhận diện thống nhất của doanh nghiệp trong hệ thống cấp phép. Cách tổ chức này giúp kết nối thông tin và giảm việc doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục nhận diện riêng biệt trong quá trình hoạt động.
Nhìn từ mô hình Indonesia, thước đo cải cách không chỉ nằm ở số lượng điều kiện kinh doanh được cắt giảm. Khi quản lý chuyển sang dựa trên rủi ro, câu hỏi quan trọng hơn là hoạt động kinh doanh đã được phân loại rủi ro chính xác hay chưa và yêu cầu quản lý áp dụng cho từng nhóm có tương xứng với mức độ rủi ro hay không. Theo cách tiếp cận này, giảm nhiều điều kiện chưa đồng nghĩa với cải cách tốt hơn; điều quan trọng là loại bỏ những yêu cầu không cần thiết nhưng vẫn duy trì các công cụ quản lý cần thiết đối với những hoạt động có mức độ rủi ro cao.
Một thước đo khác có thể tham khảo là Bộ Chỉ số Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) của Ngân hàng Thế giới. Bộ chỉ số cung cấp dữ liệu quản trị cho hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, với chuỗi dữ liệu từ năm 1996, dựa trên 6 chiều cạnh quản trị. Trong đó, hai chiều liên quan trực tiếp đến chất lượng điều hành và môi trường pháp lý là Hiệu quả Chính phủ (Government Effectiveness) và Chất lượng Quy định (Regulatory Quality).
WGI không đo số lượng thủ tục hay điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm, mà tổng hợp nhiều nguồn dữ liệu để phản ánh các khía cạnh rộng hơn của chất lượng quản trị. Với phương pháp luận cập nhật, dữ liệu được chuẩn hóa để tăng khả năng theo dõi sự thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, do WGI tổng hợp cả dữ liệu khảo sát và đánh giá của chuyên gia, các chỉ số cần được đọc cùng phương pháp luận và không nên được sử dụng đơn lẻ như một bảng xếp hạng tuyệt đối về chất lượng quản trị.
Đặt hai cách tiếp cận cạnh nhau cho thấy một sự dịch chuyển về thước đo: từ đếm số quy định được cắt giảm sang đánh giá chất lượng của quy định còn lại; từ đo khối lượng cải cách sang đo mức độ phù hợp, hiệu quả và khả năng kiểm soát rủi ro của hệ thống quản lý.
Việc cắt giảm 367 trên 658 điều kiện kinh doanh thường được trình bày như một việc đối nội, đo bằng số tiền doanh nghiệp tiết kiệm. Có một chiều thứ hai ít được nói tới. Chiều ấy được Ngân hàng Thế giới đo bằng dữ liệu trên toàn bộ các hiệp định thương mại ưu đãi đã thông báo với Tổ chức Thương mại Thế giới.
Trong Handbook of Deep Trade Agreements do Aaditya Mattoo, Nadia Rocha và Michele Ruta chủ biên, Ngân hàng Thế giới xuất bản năm 2020, ba tác giả dựng lại bộ dữ liệu toàn bộ các hiệp định thương mại ưu đãi rồi rút ra hai con số. Số hiệp định tăng từ khoảng 50 vào đầu thập niên 1990 lên khoảng 300 vào năm 2019. Mọi thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới đều đang là một bên của ít nhất một hiệp định. Quan trọng hơn là con số thứ hai về chiều sâu: một hiệp định trung bình của thập niên 1950 bao trùm 8 lĩnh vực chính sách, còn những năm gần đây con số ấy là 17.
Ba tác giả gọi lớp hiệp định mới là hiệp định thương mại sâu, rồi định nghĩa chúng bằng mục tiêu thiết lập năm quyền hội nhập kinh tế: tự do hoặc tự do hơn trong lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn, con người cùng ý tưởng. Họ nêu thêm một đặc điểm mà bài này quan tâm nhất. Các hiệp định ấy chứa những điều khoản thực thi “giới hạn quyền tuỳ nghi của chính phủ nước nhập khẩu” trong các lĩnh vực đã cam kết, đồng thời chứa cả những điều khoản điều chỉnh hành vi của bên xuất khẩu.
Việt Nam đang thực thi 17 hiệp định thương mại tự do, con số nêu ở Kỳ 4 của tuyến bài này. Hai con số 17 ấy không liên quan gì tới nhau, một bên đếm hiệp định còn một bên đếm lĩnh vực chính sách, nên đặt cạnh nhau chỉ để thấy được quy mô. Điều suy ra được nằm ở xu hướng chung: khi một hiệp định trung bình đã bao trùm 17 lĩnh vực chính sách thì nhiều thủ tục hành chính trong nước có khả năng trở thành đối tượng của cam kết quốc tế. Điều kiện kinh doanh, thủ tục cấp phép, cơ chế công bố dự thảo văn bản để lấy ý kiến trước, quyền khiếu nại quyết định hành chính đều thuộc nhóm lĩnh vực mà các hiệp định thế hệ mới thường đặt ra. Mức độ cụ thể tới đâu ở Việt Nam thì phải đối chiếu với từng hiệp định đã ký, việc mà công trình của Ngân hàng Thế giới không làm. Cắt điều kiện kinh doanh vì thế không chỉ là giảm chi phí cho doanh nghiệp trong nước, mà còn là thu hẹp khoảng cách giữa thực tế điều hành và cam kết đã ký.
Ba tác giả cũng đặt một điều kiện mà bài này ghi lại đầy đủ. Theo họ, các quy tắc cùng cam kết trong hiệp định thương mại sâu cần “được dẫn dắt bởi bằng chứng và được định hình bởi các ưu tiên phát triển nhiều hơn là bởi tương quan quyền lực quốc tế hay chính trị trong nước”. Đây là khuyến nghị chung của Ngân hàng Thế giới cho các nước đang hội nhập sâu, không nhắm riêng nước nào. Đọc theo hướng ấy thì việc rà soát điều kiện kinh doanh nên đi từ phép đo tác động thật, chứ không đi từ chỉ tiêu cắt giảm theo tỷ lệ.
Con số 367 trên 658 trả lời câu hỏi cắt bao nhiêu. Nó chưa trả lời câu hỏi khó hơn: những điều kiện ấy sinh ra để làm gì và ai được lợi khi chúng còn nguyên.
Adam Smith đặt phép thử ấy từ năm 1776, ở phần kết Quyển I bộ Của cải của các dân tộc. Ông phân biệt lợi ích của giới buôn bán với lợi ích của công chúng, rồi viết rằng lợi ích của giới ấy trong bất kỳ ngành thương mại hay chế tạo nào “luôn khác, ở vài phương diện còn đối nghịch, với lợi ích của công chúng”. Lý do ông nêu rất gọn: mở rộng thị trường thì có thể hợp với lợi ích chung, nhưng thu hẹp cạnh tranh thì “luôn luôn đi ngược lại lợi ích ấy”, vì nó chỉ giúp giới buôn bán nâng lợi nhuận lên trên mức tự nhiên để “đánh một thứ thuế phi lý lên phần còn lại của đồng bào mình”.
Từ đó Smith rút ra một quy tắc dành cho người làm chính sách. Mọi đề xuất luật mới hay quy định mới về thương mại xuất phát từ giới ấy “phải luôn được lắng nghe với sự thận trọng lớn và không bao giờ được thông qua cho tới khi đã xem xét lâu và kỹ, không chỉ bằng sự chú ý tỉ mỉ nhất mà bằng sự chú ý ngờ vực nhất”.
Đặt quy tắc ấy cạnh việc rà 658 điều kiện kinh doanh thì thấy một tiêu chí phân loại mà con số tổng không nói ra. Một điều kiện dựng lên để bảo vệ an toàn, sức khoẻ hay môi trường thì cắt phải cân nhắc. Một điều kiện dựng lên để hạn chế số người được vào ngành thì bản chất là hàng rào thu hẹp cạnh tranh. Theo Smith, chính loại này mới đáng cắt trước. Bộ số hiện có chưa tách hai loại ấy. Đây là chỗ mà báo cáo tổng kết đợt cắt giảm nên bổ sung: trong 367 điều kiện đã gỡ, bao nhiêu thuộc loại rào cản gia nhập ngành.
Phép so sánh này chỉ đi được tới một mức. Smith viết trong bối cảnh nước Anh thế kỷ 18, nơi phường hội và đặc quyền thương mại là hình thức hạn chế cạnh tranh phổ biến, khác hẳn hệ thống điều kiện đầu tư kinh doanh của Việt Nam năm 2026 vốn phần lớn sinh ra từ yêu cầu quản lý ngành. Cái dùng lại được không phải kết luận của Smith mà là câu hỏi kiểm tra của ông: điều kiện này phục vụ công chúng hay phục vụ người đã ở trong ngành.
Ở tầm quốc tế, việc cắt điều kiện kinh doanh thường được xếp vào một gói lớn hơn. Thomas L. Friedman đặt tên cho gói ấy trong cuốn Chiếc Lexus và cây ô liu năm 1999, ở chương 6, là “chiếc áo nịt vàng”. Nói ngay để tránh hiểu nhầm: bài dẫn thông tin ấy ra để đối chiếu và phản biện, không phải để giới thiệu một đơn thuốc. Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nên phần lớn danh mục dưới đây không phải và không thể là đường đi của ta.
Friedman liệt kê những điều mà theo ông một nước phải làm để mặc được chiếc áo ấy, gồm tăng cường khu vực tư nhân thành đầu tàu tăng trưởng, duy trì lạm phát thấp, “giảm biên chế, giảm nhẹ bộ máy quan liêu của nhà nước”, cân đối ngân sách, “thủ tiêu hoặc giảm hàng rào nhập khẩu”, bỏ bớt hạn chế với đầu tư nước ngoài, tư nhân hóa khu vực kinh doanh của nhà nước và thả nổi thị trường tài chính. Danh mục ấy có phần trùng với việc Bộ Công Thương đang làm ở vế thủ tục, nhưng khác hẳn ở vế sở hữu và vế điều hành.
Chỗ đáng đọc kỹ nằm ở phần Friedman tự nêu cái giá. Ông viết rằng “hơi đáng tiếc là chiếc áo đó chỉ có một cỡ”, rằng khi một nước mặc nó thì “kinh tế tăng tiến và chính trị xẹp đi”. Ông còn viết rằng chiếc áo ấy “thu hẹp khả năng lựa chọn, hạn chế và kiểm soát về chính trị và hoạch định chính sách kinh tế của nhà cầm quyền”. Ông mô tả hệ quả bằng một hình ảnh: chính phủ mặc áo ấy chỉ còn “lựa chọn giữa Pepsi và Coca Cola” khi hoạch định chính sách.
Đây chính là chỗ đường đi của Việt Nam tách ra. Cắt 367 điều kiện kinh doanh, bãi bỏ 111 thủ tục và tiết kiệm 491,3 tỷ đồng chi phí tuân thủ là giảm phiền hà cho doanh nghiệp, không phải là giao quyền hoạch định chính sách cho thị trường. Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước đi ngược hẳn vế tư nhân hóa trong danh mục của Friedman. Quy hoạch điện, khung giá điện gió ngoài khơi, dự trữ xăng dầu, bình ổn giá hàng thiết yếu đều là những công cụ mà một nhà nước “mặc áo nịt” theo mô tả của Friedman sẽ phải buông. Việt Nam giữ.
Nói cách khác, hai việc phải tách bạch khi đọc con số 367 trên 658. Giảm chi phí tuân thủ là việc kỹ thuật, làm được thì làm nhanh. Giữ quyền chủ động hoạch định chính sách kinh tế là việc nguyên tắc, không nằm trong cùng một phép cộng. Chính Friedman, người cổ vũ toàn cầu hóa, là người mô tả rõ nhất cái giá của việc đánh đồng hai thứ ấy.
Con số 367 trên 658 điều kiện kinh doanh được gỡ đặt ra một câu hỏi cũ trong lịch sử cải cách bộ máy: cắt nhanh hay cắt chắc.
Nói chuyện nhân dịp Tết Nhâm Thìn năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh xếp thứ tự ba thứ cản trở việc hoàn thành nhiệm vụ kinh tế tài chính. Bệnh quan liêu đứng ở vị trí thứ nhất: “Bệnh quan liêu là bệnh giấy tờ, bệnh hình thức, không thực tế, là xa cách quần chúng, không theo đường lối quần chúng, làm không đúng chính sách của Chính phủ và của Đoàn thể” (trích Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 7, trang 297). Định nghĩa ấy đặt ra một thước đo khắt khe cho việc cắt giảm điều kiện kinh doanh: cắt bao nhiêu điều kiện là con số trên giấy, còn doanh nghiệp có bớt phải đi lại, bớt phải nộp hồ sơ hay không mới là thực tế. Người nói câu đó năm 1952, giữa kháng chiến, hoàn cảnh khác hẳn Việt Nam năm 2026, nhưng cái lõi thì trùng: tốc độ cắt giảm chỉ có nghĩa khi phần còn lại chạy được.
Đặt cách tiếp cận này vào quá trình cải cách của Bộ Công Thương có thể thấy những kết quả bước đầu đã được lượng hóa khá rõ: 367/658 điều kiện kinh doanh được cắt giảm, 111 thủ tục hành chính được bãi bỏ, 177 thủ tục được đơn giản hóa, qua đó ước tính tiết kiệm 491,3 tỷ đồng chi phí tuân thủ.
Những con số này cho thấy quy mô và tốc độ cải cách đã có thể đo đếm cụ thể. Bước tiếp theo là mở rộng thước đo từ kết quả xử lý trên văn bản sang những giá trị doanh nghiệp thực sự nhận được: thời gian thực hiện thủ tục rút ngắn bao nhiêu, chi phí thực tế giảm thế nào và nguồn lực được giải phóng ra sao cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nếu bổ sung thêm các chỉ số phản ánh trải nghiệm và chi phí tuân thủ thực tế của doanh nghiệp, bức tranh cải cách sẽ đầy đủ hơn. Khi đó, hiệu quả không chỉ được thể hiện bằng số điều kiện, thủ tục được cắt giảm, đơn giản hóa, mà còn bằng mức độ những thay đổi ấy chuyển hóa thành thời gian và chi phí tiết kiệm được cho doanh nghiệp. Đây cũng là bước chuyển từ đo khối lượng cải cách sang đo chất lượng và tác động của cải cách.
Ở tầng công nghệ, câu hỏi được đặt lại theo cách khác. Daron Acemoglu và Simon Johnson, hai nhà kinh tế của Viện Công nghệ Massachusetts được trao giải Nobel Kinh tế năm 2024, viết trong Power and Progress năm 2023 rằng giữa những bước tiến ngoạn mục của trí tuệ nhân tạo, câu hỏi phải đặt ra là ai kiểm soát tương lai cùng việc ai được hưởng lợi. Hai ông đặt thẳng vấn đề rằng trí tuệ nhân tạo tạo sinh sẽ chỉ phục vụ một nhóm tinh hoa công nghệ hay sẽ làm nền cho thịnh vượng trên diện rộng.
Câu hỏi ấy không xa với một bộ đang đặt mục tiêu 80% hồ sơ trực tuyến toàn trình. Số hoá làm bộ máy chạy nhanh hơn, nhưng ai là người được hưởng phần nhanh ấy thì phụ thuộc vào chỗ dữ liệu được mở tới đâu cùng chỗ doanh nghiệp nhỏ có tiếp cận được hay không.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng.
Xâu chuỗi phát biểu của Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng từ tháng 4 tới tháng 8/2026, chữ “quản trị” xuất hiện ở cả hai đầu của công việc thể chế. Ở đầu bộ máy là yêu cầu siết kỷ cương hành chính, thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trước Bộ trưởng về tiến độ và chất lượng, đưa nền tảng số và trợ lý ảo vào vận hành hằng ngày, nghiên cứu giao nhiệm vụ khoa học công nghệ cho doanh nghiệp tư nhân có năng lực quản trị tốt và được kiểm toán độc lập.
Ở lĩnh vực xây dựng pháp luật, tại phiên thảo luận tổ chiều 4/8, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng nêu 4 động lực đặt ra yêu cầu sửa Luật Dầu khí, trong đó có mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số kéo theo nhu cầu năng lượng tăng mạnh. Đến phiên thảo luận tại hội trường ngày 8/8, Bộ trưởng nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt của dự thảo là tăng cường phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục để khơi thông nguồn lực, đi đôi với kiểm tra, giám sát và “phù hợp với tinh thần đổi mới về quản trị”. Bộ trưởng khẳng định: “Bộ Công Thương, cơ quan chủ trì soạn thảo nghiêm túc tiếp thu đầy đủ, toàn diện các ý kiến của các đại biểu Quốc hội”.
Đặt hai quá trình cạnh nhau có thể thấy một hướng cải cách khá nhất quán: ở cấp thực thi, giảm giấy tờ, cắt giảm điều kiện kinh doanh nhưng đồng thời tăng cường hậu kiểm dựa trên dữ liệu; ở cấp pháp luật, đơn giản hóa quy định, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng vẫn bảo đảm cơ chế kiểm tra, giám sát.
Nếu biểu diễn bằng hai đường dữ liệu, một đường là số điều kiện kinh doanh cần tiếp tục đi xuống, trong khi đường còn lại - năng lực dữ liệu, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình - cần đi lên tương ứng. Thước đo cho nửa cuối năm 2026 vì thế không chỉ là cắt giảm thêm bao nhiêu điều kiện, thủ tục, mà còn là năng lực quản trị có được nâng lên tương xứng với tốc độ phân cấp và cắt giảm hay không.
Toàn bộ các con số trong bài đều là số đầu ra của bộ máy: bao nhiêu điều kiện được cắt, bao nhiêu nhiệm vụ hoàn thành, bao nhiêu tỷ đồng chi phí tuân thủ tiết kiệm được. Còn thiếu một loại số ở phía bên kia: chi phí thật mà doanh nghiệp bỏ ra để tuân thủ, đo bằng số ngày chờ, số lần đi lại và số hồ sơ phải nộp lại.
Con số 491,3 tỷ đồng tiết kiệm được là ước tính từ phía cơ quan quản lý dựa trên số thủ tục cắt giảm, không phải kết quả khảo sát doanh nghiệp. Tương tự, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến xấp xỉ 99% cho biết hồ sơ được nộp qua mạng, chưa cho biết có bao nhiêu hồ sơ phải bổ sung hay làm lại. Khoảng cách giữa hai loại số ấy chính là chỗ mà một cuộc cải cách có thể đúng trên giấy tờ mà chưa chuyển thành cảm nhận của người thực hiện. Đây là khoảng trống đo lường được ghi nhận, không phải một kết luận rằng cải cách chưa có hiệu quả.
Việc cắt 367 trên 658 điều kiện kinh doanh đặt ra một câu hỏi về mục đích: cắt để làm gì, giữ lại thì giữ theo tiêu chí nào. Một trong những lời tuyên bố sớm nhất còn được sử sách chép nguyên văn về chính câu hỏi ấy có từ năm 1428, ngay sau khi cuộc kháng chiến kết thúc. Cần nói ngay rằng đây không phải văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta: Đại Việt sử ký toàn thư đã chép việc nhà Lý ban bộ Hình thư từ trước đó rất lâu. Điều đáng đọc lại không phải thứ tự thời gian mà là chỗ người đứng đầu nhà nước nói rõ pháp luật đặt ra để làm gì.
Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng vua Lê Thái Tổ hạ lệnh cho các tướng hiệu cùng các quan: “Từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn. Cho nên học tập đời xưa đặt ra pháp luật là để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ để đến nỗi phạm pháp”.
Hai vế trong lệnh ấy đáng tách ra đọc riêng. Vế thứ nhất khẳng định pháp luật là điều kiện của trật tự, tức bác bỏ ngay từ đầu cách hiểu rằng cắt bỏ càng nhiều quy định càng tốt. Vế thứ hai đặt một tiêu chí về chất lượng: pháp luật đặt ra là để cho người ta biết mà tránh. Đối tượng phải biết được liệt kê từ trên xuống dưới, từ tướng hiệu, quan lại cho đến dân chúng trăm họ.
Tiêu chí ấy chuyển thẳng thành một phép thử cho công việc rà soát hôm nay. Đó là phép thử khác với phép đếm tỷ lệ cắt giảm. Một điều kiện kinh doanh mà người phải tuân thủ không tự đọc để biết mình có đạt hay không, phải hỏi cơ quan quản lý mới rõ, thì điều kiện ấy đã hỏng ngay ở chức năng gốc mà vua Lê Thái Tổ nêu, bất kể nó có nằm trong danh mục 367 điều kiện được cắt hay 291 điều kiện được giữ. Ngược lại, một điều kiện được diễn đạt đủ rõ để doanh nghiệp tự kiểm tra được thì việc giữ nó không mâu thuẫn gì với chủ trương cải cách.
Bối cảnh hai bên cũng cách nhau khá xa. Lời vua Lê Thái Tổ mang tinh thần giáo hoá của nhà nước quân chủ, tức dạy cho biết thiện ác. Yêu cầu minh bạch cùng khả năng dự đoán được của một nền kinh tế thị trường là chuyện của thời sau. Phần dùng lại được là chức năng gốc mà ông nêu, tức pháp luật phải để người chịu sự điều chỉnh tự biết, chứ không phải toàn bộ quan niệm pháp luật của thời ấy.
Vế thứ ba của cùng một vấn đề nằm ở phía thu và chi. Phan Huy Chú nói rất thẳng trong Quốc dụng chí. Ông viết rằng việc lấy của người dưới để cung phụng lên trên “tất phải có người chuyên trách, phải định ra lệ trưng thu cho đúng”, rồi gọi toàn bộ nguyên tắc ấy là “cái đạo đặt phép tắc lấy của dân”.
Chữ “định ra lệ cho đúng” đặt trách nhiệm về phía cơ quan đặt ra quy định, không đặt về phía người phải chấp hành. Con số 491,3 tỷ đồng chi phí tuân thủ tiết kiệm được, nêu ở đầu bài, chính là phần đo được của khoảng cách giữa lệ đang có và lệ đúng. Điều đáng nói là con số ấy chỉ đo được sau khi việc cắt đã làm xong. Muốn biết phần còn lại thì phải đo trước, tức phải có phép đo chi phí tuân thủ cho từng điều kiện đang còn hiệu lực, chứ không chỉ có phép đo cho những điều kiện vừa bị bãi bỏ.
Bài viết này tập trung đo lường kết quả cắt giảm điều kiện kinh doanh và tiến độ xây dựng các dự án luật. Ở một lát cắt khác, Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Công Thương gửi Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tháng 8/2026 đã chỉ ra thêm hai khoảng trống thể chế cụ thể trong lĩnh vực năng lượng. Điều đáng ghi nhận là những vấn đề này được chính cơ quan quản lý chủ động nhận diện, thay vì chờ đến khi được chỉ ra từ bên ngoài.
Khoảng trống thứ nhất nằm ở Luật Điện lực. Nghị quyết số 70 nhấn mạnh phát triển lưới điện thông minh cùng ứng dụng chuyển đổi số trong năng lượng, nhưng báo cáo ghi rõ Luật Điện lực năm 2024 hiện chưa có quy định làm cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai lưới điện thông minh tại Việt Nam. Báo cáo kết luận việc bổ sung cơ sở pháp lý ấy vào Luật Điện lực số 61/2024/QH15 là cần thiết. Đặt cạnh phần trên của bài này về dự án sửa Luật Điện lực đang trình Kỳ họp thứ 2, đây là một nội dung cụ thể mà bản sửa đổi phải hoàn thiện.
Khoảng trống thứ hai nằm ở lộ trình thị trường điện cạnh tranh. Nghị quyết số 70 đặt ba yêu cầu: phát triển thị trường điện theo hướng tăng cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả; áp dụng giá thị trường với mọi loại hình năng lượng, không thực hiện bù chéo; xây dựng hệ thống giao dịch điện với cơ chế hợp đồng mua bán điện minh bạch, ổn định, dài hạn. Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định quy định lộ trình, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu ngành điện cùng các điều kiện hình thành các cấp độ thị trường điện cạnh tranh, qua Tờ trình số 2108/TTr-BCT cùng Báo cáo số 343/BC-BCT và Báo cáo số 517/BC-BCT. Báo cáo ghi rằng sau khi Thủ tướng ký ban hành, Bộ sẽ đồng loạt triển khai các nhiệm vụ tiếp theo.
Hai khoảng trống ấy có cùng một hình dạng với điều bài này đã bàn ở phần thước đo quản trị. Chủ trương đã có ở tầng Nghị quyết, việc thực thi đang chờ một văn bản cấp dưới được ký. Chỗ đo được vì thế là độ trễ giữa hai mốc ấy, chứ không phải số lượng văn bản đã trình.
Phiên khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Việc cắt 367 trên 658 điều kiện kinh doanh nằm trong một mạch chỉ đạo lớn hơn. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV yêu cầu “đổi mới cơ chế quản trị theo mục tiêu, kết quả đầu ra và tác động phát triển; đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực”.
Nghị quyết còn đặt yêu cầu với chính cách làm nghị quyết: “đổi mới căn bản công tác xây dựng và triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, bảo đảm thống nhất từ chủ trương đến hành động, từ mục tiêu đến kết quả”, trong đó phải “xác định rõ nhiệm vụ, lộ trình, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm”. Năm vế ấy gần trùng với nguyên tắc “6 rõ” mà Bộ Công Thương đang áp dụng.
Chương trình số 33-Ctr/TW của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết xác định 40 chỉ tiêu cụ thể tại Phụ lục 1 và giao các cấp uỷ cụ thể hoá theo ngành. Với tám nhiệm vụ Chính phủ giao đích danh mà bài này lập bảng theo dõi, năm dòng còn trống thông tin chính là chỗ bộ chỉ tiêu ngành phải khép lại trước khi nói tới việc đo tác động.
Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh còn có một địa chỉ văn bản nữa, ban hành trước cả Nghị quyết Trung ương 3 hơn một năm. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật yêu cầu môi trường đầu tư kinh doanh “thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp”, đi kèm mệnh lệnh “triệt để cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện đầu tư, kinh doanh, hành nghề, thủ tục hành chính bất hợp lý”.
Chữ đắt trong câu ấy là "chi phí tuân thủ". Con số 367 trên 658 điều kiện đã cắt và 491,3 tỷ đồng tiết kiệm được là hai cách đo khác nhau: một cái đếm số điều kiện, một cái quy ra tiền. Cách đo thứ hai gần với tinh thần Nghị quyết 66 hơn, vì doanh nghiệp không chịu chi phí theo số điều kiện mà theo thời gian và tiền bạc bỏ ra để tuân thủ chúng.