Ngày 1/10/1876, cụ Huỳnh Thúc Kháng ra đời tại làng Thạnh Bình, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng. Gần 70 năm sau, ngày 2/10/1945, trong những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Nguyễn Mạnh Hà ký Nghị định số 08-BKT/VP về tổ chức bộ máy và hoạt động của Bộ. Nghị định quy định thành lập “Phòng Kinh tế tập san”, với nhiệm vụ xuất bản Việt Nam Kinh tế tập san. Đây được xác định là cơ quan tiền thân đầu tiên của Báo Công Thương.
Từ dấu mốc lịch sử ấy, ngày 2/10 đã được Bộ Công Thương chính thức công nhận là Ngày truyền thống Báo Công Thương theo Quyết định số 1599/QĐ-BCT ngày 18/6/2024.
Nghị định số 08-BKT/VP ngày 2/10/1945 của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế, trong đó Phòng thứ ba là Phòng Kinh tế tập san có nhiệm vụ xuất bản Việt Nam Kinh tế tập san. Nguồn: Thư viện Quốc gia Việt Nam
Hai ngày liền nhau trên lịch, cách nhau 69 năm, năm nay: 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh, 81 năm Báo Công Thương. Sự trùng hợp ấy là dịp để những người làm báo ngành lật lại công báo những năm 1945, 1946, tìm xem cụ Huỳnh đã đặt dấu ấn gì lên buổi đầu của ngành mình.
Công văn số 1182-CV/ĐUB ngày 28/9/2026 của Ban Thường vụ Đảng uỷ Bộ Công Thương yêu cầu cấp uỷ các cơ quan báo chí thuộc Bộ “chú trọng nêu bật quá trình hoạt động và những đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, nhất là sau Cách mạng Tháng Tám 1945”.
Bài viết này tiếp cận yêu cầu ấy từ một nguồn tư liệu trực tiếp là các văn bản gốc của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Qua những sắc lệnh, công hàm và văn bản hành chính còn lưu lại, vai trò, dấu ấn và tinh thần trách nhiệm của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong những năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng hiện lên cụ thể, sinh động và có sức thuyết phục từ chính sử liệu.
Nghị định số 08-BKT/VP ngày 2/10/1945, đăng trên Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 13/10/1945, đã đặt những viên gạch đầu tiên cho bộ máy của Bộ Quốc dân Kinh tế. Đứng đầu cơ quan hành chính của Bộ là “Đổng lý sự vụ”, người có nhiệm vụ “chỉ huy tất cả các công việc hành chính trong bộ và liên lạc với các nha và các sở trong bộ”. Dưới “Đổng lý sự vụ” là các phòng sự vụ, đảm nhiệm từng phần việc cụ thể trong hoạt động của Bộ.
Cựu Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà (trái) và cựu Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh tại Pháp, năm 1946.
Phòng nhất, "Phòng Công văn và viên chức". Phòng nhì, "Phòng Cổ động và pháp chế", lo cổ động, thông cáo, thu thập tài liệu khảo cứu, các đạo luật về kinh tế. Phòng ba, "Phòng Kinh tế tạp san", nhiệm vụ "xuất bản Việt Nam Kinh tế tập san". Phòng tư, "Phòng Nông mục thuỷ lâm". Phòng năm, "Phòng Kỹ nghệ". Sở Thống kê có nhiệm vụ "thu thập các tài liệu, trình bày các con số", xuất bản "Thống kê bạ", "Thống kê nguyệt san". (Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 13/10/1945)
Cùng ngày 2/10/1945, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà cử ông Nguyễn Ngọc Minh giữ chức Chánh Giám đốc Nha Thương vụ, ông Nghiêm Xuân Yêm giữ chức Chánh Giám đốc Nha Nông mục Thuỷ lâm. Bộ máy kinh tế đầu tiên của nước Việt Nam mới gồm cả thương mại, kỹ nghệ, nông nghiệp, thống kê và một tờ tập san. Đó là gốc của nhiều bộ ngành kinh tế ngày nay, trong đó có ngành Công Thương.
6 tháng sau, bộ máy quản lý kinh tế tiếp tục được tổ chức xuống địa phương. Nghị định ngày 1/4/1946 do Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Chu Bá Phượng ký, đăng Công báo ngày 8/6/1946, quy định tại mỗi kỳ có một Phòng hoặc Sở Kinh tế kỳ; các tỉnh có quan hệ kinh tế với nhau được hợp thành quận kinh tế; tại mỗi tỉnh, thành phố đặt một Phòng Kinh tế.
Nghị định nêu rõ: “Ủy viên kinh tế các cấp kỳ, quận, thành phố, tỉnh đều do Bộ Quốc dân Kinh tế cử”. Như vậy, từ tháng 4/1946, một hệ thống quản lý kinh tế theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương đã từng bước được hình thành.
Ngày 30/5/1946, một ngày trước khi lên đường sang Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 90. Sắc lệnh hủy bỏ các nghị định của "nguyên Toàn quyền Pháp tại Đông Dương" từ năm 1913 đến năm 1944 về các khu cấm địa khai mỏ. Điều thứ 2 tuyên bố: "Những khu cấm địa kế trên này lập thành khu mỏ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà". Đó là 5 khu Đông Triều, Thái Nguyên, Trà My, Nông Sơn, Khe Bô.
Sắc lệnh có 3 chữ ký phó thự: Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiền, Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Chu Bá Phượng. Ba bộ cùng chịu trách nhiệm thi hành. Bộ Nội vụ do cụ Huỳnh đứng đầu lúc ấy phụ trách tổ chức chính quyền, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự trị an, nên cùng gánh trách nhiệm đưa sắc lệnh vào đời sống các vùng mỏ.
Sắc lệnh số 90 cứng rắn mà công bằng. Điều thứ 3 viết: "Những quyền sở hữu sẵn có hợp với luật lệ mỏ của nước Việt Nam đều được tôn trọng". Điều thứ 4 viết: "Những quyền lợi cũ trái với sắc lệnh này đều không có giá trị". Nhà nước mới không tịch thu tràn lan, chỉ xoá những đặc quyền thực dân trái với chủ quyền quốc gia.
Cũng trong ngày 30/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 91, Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Chu Bá Phượng phó thự, cho ông Đỗ Long Giang, một chủ mỏ ở phố Lê Thái Tổ, Hà Nội, được hưởng đặc quyền tìm mỏ và khai thác than đá tại khu Giáp Khẩu.
Đặt cạnh nhau, hai sắc lệnh ban hành cùng ngày cho thấy khá rõ cách tiếp cận của Chính phủ đối với tài nguyên khoáng sản thời điểm ấy: Nhà nước trực tiếp nắm giữ những vùng mỏ lớn, đồng thời vẫn mở đường cho các chủ mỏ người Việt tham gia thăm dò, khai thác trong khuôn khổ pháp luật.
Năm ngày sau, ngày 4/6/1946, khi đang thay Chủ tịch nước điều hành công việc Chính phủ, cụ Huỳnh Thúc Kháng ký Sắc lệnh số 93: “Nay cử ông Chu Bá Phượng làm phái viên và ông Vũ Trọng Khánh làm cố vấn trong phái đoàn Việt Nam sang Ba Lê”.
Người được cử làm phái viên chính là Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Chu Bá Phượng, người vừa phó thự Sắc lệnh số 90 trước đó ít ngày. Sắc lệnh giao Bộ trưởng các Bộ Nội vụ, Tài chính, Quốc dân Kinh tế và Tư pháp phụ trách thi hành.
Một số báo Tiếng Dân trưng bày tại Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng ở xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông
Việc đưa người đứng đầu ngành kinh tế tham gia phái đoàn đàm phán cho thấy yếu tố kinh tế được đặt ở vị trí quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau. Khi ấy, các vấn đề liên quan đến quyền lợi kinh tế, tài chính và văn hoá của Pháp tại Việt Nam là một trong những nội dung lớn trên bàn đàm phán.
Trước đó, ngày 22/5/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã được cử tham gia Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề phục vụ Hội nghị Fontainebleau. Từ việc tham gia chuẩn bị nội dung đến sắc lệnh ngày 4/6 cử Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Chu Bá Phượng vào phái đoàn, có thể thấy cụ Huỳnh đã trực tiếp góp phần vào quá trình chuẩn bị nhân sự và nội dung cho cuộc đàm phán, trong đó những vấn đề kinh tế được đặc biệt coi trọng.
Ngày 27/9/1946, cụ Huỳnh ký sắc lệnh cử Phó Đổng lý sự vụ Bộ Quốc dân Kinh tế. Công báo ngày 12/10/1946 đăng: "Theo sắc lệnh ký ngày 27/9/1946 sau khi hội đồng Chính phủ đã thoả hiệp, cử ông Đào Hữu Dương, cử nhân luật khoa, giữ chức Phó Đổng lý sự vụ bộ Quốc dân Kinh tế”. Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật quốc gia xác định văn bản này là Sắc lệnh số 189.
Theo Nghị định số 08, Đổng lý sự vụ là người chỉ huy toàn bộ công việc hành chính của Bộ. Chức phó của vị trí ấy phải bổ nhiệm bằng sắc lệnh, qua Hội đồng Chính phủ thoả thuận. Trong 143 ngày giữ Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh không chỉ xử lý những công việc lớn của quốc gia mà còn trực tiếp ký các văn bản về tổ chức, nhân sự của bộ máy nhà nước, trong đó có Bộ Quốc dân Kinh tế.
Dấu ấn cụ Huỳnh Thúc Kháng trên văn bản của ngành kinh tế năm 1946. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 15/6, 12/10 và 26/10/1946.
Mối liên hệ của cụ Huỳnh Thúc Kháng với hoạt động kinh tế đã hình thành từ trước năm 1946. Năm 1927, cụ sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế và đảm nhiệm vai trò chủ nhiệm kiêm chủ bút. Gắn với tờ báo và nhà in Tiếng Dân là Công ty Huỳnh Thúc Kháng, được tổ chức theo mô hình công ty cổ phần.
Tư liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I cho thấy, công ty từng có công văn đề nghị đóng dấu thuế tem đối với 12 bản sao cổ phiếu cấp lại cho cổ đông. Chi tiết này, theo giới thiệu của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, cho thấy hoạt động của Tiếng Dân không chỉ gắn với báo chí mà còn được tổ chức trên một nền tảng kinh tế, tài chính khá bài bản.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng và tờ báo Tiếng Dân. Ảnh tư liệu: Nguồn Baothainguyen.vn
Năm 1928, Nhà in Tiếng Dân trên đường Đông Ba, Huế, in cho Quan Hải tùng thư do học giả Đào Duy Anh tổ chức cuốn Kinh tế học tiểu sử. Ngay ở trang cuối, sách ghi rõ địa chỉ giao dịch: “Đào Duy Anh, Biên tập ở toà báo Tiếng Dân, đường Đông Ba, Huế”. Cách phát hành cũng khá bài bản khi người buôn lại được giảm 20%, còn người nhận bán lẻ được hưởng hoa hồng 15%. Những chi tiết ấy cho thấy cuốn sách không chỉ được in để phổ biến tri thức, mà đã được tổ chức phát hành theo một phương thức thương mại khá rõ ràng.
Cuốn sách thuộc dòng sách phổ thông dạy lịch sử học thuyết kinh tế bằng chữ Quốc ngữ, kèm bảng thuật ngữ kinh tế tiếng Việt. Tờ báo của cụ Huỳnh làm hạ tầng in ấn và phát hành cho dòng sách ấy. 17 năm sau, nước Việt Nam mới có một Bộ Quốc dân Kinh tế với một phòng chuyên xuất bản tập san kinh tế. Sợi chỉ nối hai mốc là ý thức đưa tri thức kinh tế đến với người Việt bằng tiếng Việt.
Ngày 29/4/1947, tám ngày sau khi cụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời tại Quảng Ngãi trên đường kinh lý miền Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư báo tin với đồng bào cả nước. Trong thư, Người đánh giá cụ Huỳnh là “một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.
Gần 80 năm sau, lời đánh giá ấy một lần nữa được Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhắc lại tại Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, tổ chức sáng 1/10/2026 tại Đà Nẵng.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và đại biểu xem trưng bày sách tài nguyên thông tin về cụ Huỳnh Thúc Kháng tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN
Công báo năm 1946 cho thấy cách cụ Huỳnh làm việc với ngành kinh tế. Tài nguyên được giữ bằng pháp luật: Thu khu mỏ về tay Nhà nước, xoá đặc quyền thực dân, tôn trọng quyền sở hữu hợp pháp. Quyền lợi kinh tế quốc gia được đặt lên bàn đàm phán, giao cho người am hiểu đi giữ. Bộ máy và con người được kiện toàn từng vị trí, bằng thủ tục chặt chẽ qua Hội đồng Chính phủ.
Cách làm ấy còn nguyên ý nghĩa với ngành Công Thương hôm nay. Đề cương tuyên truyền yêu cầu gắn việc học tập tấm gương cụ Huỳnh với nhiệm vụ "phát triển nông nghiệp hiện đại, xanh, bền vững, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và kinh tế biển phù hợp với thực tiễn", với việc "đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số". Với cán bộ, đảng viên, Đề cương yêu cầu học cụ Huỳnh "trước hết là tu dưỡng đạo đức, giữ vững bản lĩnh, sống liêm chính, tận tuỵ, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung".
Tại Hội thảo khoa học về cụ Huỳnh ngày 30/9/2026, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết nói: "Trí thức chân chính là trí thức gắn trí tuệ với vận mệnh dân tộc; trí thức chỉ thực sự lớn khi đứng về phía nhân dân". Cụ Huỳnh là mẫu người trí thức ấy. Cụ không phải nhà kinh tế chuyên nghiệp, nhưng trí tuệ của cụ đặt đúng vào những việc kinh tế mà vận mệnh dân tộc đòi hỏi.
Những vùng mỏ Đông Triều, Thái Nguyên được Chính phủ thu về năm 1946 về sau thành những vùng công nghiệp quan trọng của đất nước. Tờ Việt Nam Kinh tế tập san ra đời từ Nghị định số 08/1945 nay là Báo Công Thương 81 tuổi. Bộ máy kinh tế ngành dọc dựng từ tháng 4/1946 nay là hệ thống ngành Công Thương từ trung ương đến địa phương.
Mỗi người làm Công Thương hôm nay, khi đọc lại những sắc lệnh có chữ ký cụ Huỳnh, đều thấy mình đang đi tiếp con đường cụ cùng thế hệ lập quốc mở ra. Đó là con đường làm kinh tế để giữ độc lập, làm kinh tế vì dân, như cách cụ đã sống suốt 70 năm vì nước, vì dân.
Tài liệu tham khảo
A. Văn kiện, văn bản
1. Ban Tuyên giáo Trung ương, Hướng dẫn số 06-HD/BTGTW ngày 08/9/2026, kèm Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, trang 1, 2, 7, 10, 11.
2. Ban Thường vụ Đảng uỷ Bộ Công Thương, Công văn số 1182-CV/ĐUB ngày 28/9/2026 về đẩy mạnh tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng.
B. Công báo, tư liệu lưu trữ
1. Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 13/10/1945 (Nghị định số 8 ngày 02/10/1945 tổ chức Bộ Quốc dân Kinh tế và các nghị định cử Chánh Giám đốc các nha).
2. Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 08/6/1946 (nghị định ngày 01/4/1946 tổ chức các cơ quan kinh tế địa phương), 15/6/1946 (Sắc lệnh số 90, 93), 06/7/1946 (Sắc lệnh số 91), 12/10/1946 (Sắc lệnh ngày 27/9/1946), 26/10/1946 (Sắc lệnh số 198).
3. Quan Hải tùng thư, Kinh tế học tiểu sử, quyển thứ nhất, nhà in Tiếng Dân, Huế, 1928.
C. Báo chí
1. "Tài liệu lưu trữ về cụ Huỳnh Thúc Kháng", archives.org.vn.
2. "Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng", vietnamplus.vn, ngày 01/10/2026.
3. "Bảo tồn, phát huy và lan toả Di sản cụ Huỳnh Thúc Kháng trong đời sống xã hội", dangcongsan.vn, ngày 30/9/2026.