Đóng

Cục trưởng Cục Thống kê: Doanh nghiệp tự làm mới để đóng góp thực chất hơn vào tăng trưởng

Theo Cục trưởng Cục Thống kê, việc doanh nghiệp gia nhập và rút lui là quá trình thanh lọc tự nhiên, giúp tự làm mới để đóng góp thực chất hơn vào tăng trưởng.

Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, trong 9 tháng năm 2026, cả nước có hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong khi bình quân mỗi tháng có 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Bàn luận xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê:

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê.

Doanh nghiệp gia nhập thị trường vẫn cao

- Thưa bà, số liệu 9 tháng năm 2026 cho thấy những chuyển động nào đáng chú ý về đăng ký doanh nghiệp?

Bà Nguyễn Thị Hương: Trong 9 tháng năm 2026, cả nước có gần 149,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.884 nghìn tỷ đồng và hơn 733,1 nghìn lao động đăng ký. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 3,2%, vốn đăng ký tăng 32,7%, trong khi số lao động đăng ký giảm 16,1%.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt hơn 5,0 triệu tỷ đồng, tăng 6,1%.

Bên cạnh đó, cả nước có gần 74,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tính chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 9 tháng đạt hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mỗi tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Ở chiều rút lui, gần 89,8 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước; 33,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 37%. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là hơn 48,7 nghìn, tăng 118,8%. Bình quân mỗi tháng có 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

- Nhìn vào tương quan giữa số doanh nghiệp gia nhập thị trường và số doanh nghiệp rút lui, bà đánh giá thế nào về “sức khỏe doanh nghiệp” hiện nay?

Bà Nguyễn Thị Hương: Việc doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường là quy luật tự nhiên trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào. Nếu lấy số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trừ số doanh nghiệp rút lui, số tăng ròng hiện nay vẫn đạt hơn 5.000 doanh nghiệp bình quân mỗi tháng.

Mức tăng ròng này cao hơn so với các giai đoạn trước, khi số doanh nghiệp tăng thuần chỉ khoảng 3.000 doanh nghiệp mỗi tháng. Vì vậy, cần nhìn nhận sự gia nhập và rút lui của doanh nghiệp trong bối cảnh quá trình tái cơ cấu diễn ra tự nhiên trên thị trường.

Những doanh nghiệp nhận thấy mô hình hoạt động không còn phù hợp có thể chủ động rút lui để chuyển đổi sang lĩnh vực khác. Phần lớn doanh nghiệp trong nước có quy mô vốn nhỏ, bình quân hơn 10 tỷ đồng, nên khả năng cơ động tương đối cao. Doanh nghiệp có thể rút khỏi những ngành gặp khó khăn hoặc có tính thời vụ để chuyển sang các lĩnh vực có tiềm năng hơn theo từng thời điểm.

Đây là quá trình thanh lọc, đào thải bình thường trong nền kinh tế, giúp doanh nghiệp có sự điều chỉnh và làm mới hoạt động, qua đó đóng góp thực chất hơn vào tăng trưởng.

- Vậy kết quả điều tra xu hướng kinh doanh phản ánh như thế nào về hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian tới, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Hương: Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2026 cho thấy 34,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh tốt hơn quý II; 45,7% nhận định ổn định và 20,1% cho rằng gặp khó khăn.

Đối với quý IV/2026, có 39,2% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh tốt lên so với quý III; 44,7% dự báo ổn định và 16,1% dự báo khó khăn hơn.

Xét theo khu vực kinh tế, tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh quý IV tốt hơn hoặc ổn định so với quý III ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là 85,5%, khu vực doanh nghiệp Nhà nước là 83,3% và khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước là 83,1%.

Trong 9 tháng năm 2026, cả nước có hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường và bình quân mỗi tháng tới 19,1 nghìn đơn vị rút lui.

Về khối lượng sản xuất, 35,3% doanh nghiệp cho biết quý III tăng so với quý II, 44,4% ổn định và 20,3% giảm. Sang quý IV, 39,0% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng, 46,2% dự báo ổn định và 14,8% dự báo giảm.

Đối với đơn đặt hàng mới, 31,9% doanh nghiệp ghi nhận số lượng đơn hàng quý III cao hơn quý II, 48,3% ổn định và 19,8% giảm. Trong quý IV, 37,3% doanh nghiệp dự kiến đơn hàng mới tăng, 48,3% dự kiến ổn định và 14,4% dự kiến giảm.

Với đơn hàng xuất khẩu, trong quý III có 24,8% doanh nghiệp ghi nhận đơn hàng mới tăng, 56,0% ổn định và 19,2% giảm so với quý II. Sang quý IV, 30,8% doanh nghiệp dự kiến đơn hàng xuất khẩu mới tăng, 54,2% dự kiến ổn định và 15,0% dự kiến giảm.

Kỳ vọng sản xuất, kinh doanh cải thiện

- Trong điều tra xu hướng kinh doanh, vốn vay và lãi suất đang tác động như thế nào đến hoạt động của doanh nghiệp, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Hương: Qua điều tra về xu hướng kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, vốn vay là một trong những yếu tố gây khó khăn cho doanh nghiệp. Lãi suất cao trong bối cảnh doanh nghiệp còn gặp khó khăn về giá cả đầu ra, trong khi chi phí nguyên, nhiên vật liệu tăng, sẽ tạo thêm áp lực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Đây cũng là xu hướng chung của thế giới trong bối cảnh bất ổn và mức độ rủi ro của dòng vốn gia tăng. Một số tổ chức như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu và một số ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất. Tuy nhiên, một số quốc gia như Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan không tăng lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng.

Đây là vấn đề cần lưu ý. Trong báo cáo quý III, giá trị tăng thêm của ngành tài chính, ngân hàng cũng có kết quả rất tích cực, trong khi lãi suất được doanh nghiệp nhận định là một trong những khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

- Bà có khuyến nghị gì đối với chính sách điều hành lãi suất để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn và duy trì sản xuất? 

Bà Nguyễn Thị Hương: Theo tôi, bài toán đối với Chính phủ và cơ quan quản lý là vừa hỗ trợ hoạt động của ngân hàng, với vai trò là người cho vay, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn với lãi suất hợp lý.

Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường sản xuất trong những tháng cuối năm có vốn nhập nguyên vật liệu, phục vụ xuất khẩu và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn trong thời gian tới. Khi đưa hàng hóa vào những thị trường tốt hơn và đi xa hơn, yêu cầu đặt ra không chỉ ở bao bì hay quảng cáo mà thực chất là chất lượng sản phẩm, nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra đều phải được nâng lên.

Chính phủ có thể nghiên cứu các chính sách hỗ trợ vay vốn đối với những ngành hàng có nhu cầu vốn lớn, vòng quay vốn dài hơn hoặc có tính chất phục vụ cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống người dân.

Bên cạnh đó, cần xem xét các giải pháp hỗ trợ những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống người dân. Tổng mức bán lẻ có thể còn chịu tác động từ những khó khăn chung và tâm lý thận trọng trước tình hình bất ổn địa chính trị, cũng như những cú sốc từ nguồn cung năng lượng đang tác động đến nhiều ngành kinh tế.

Đối với những lĩnh vực như y tế, việc hỗ trợ để tăng tiêu dùng của người dân và thúc đẩy các ngành đi vào đời sống nhanh hơn sẽ góp phần nâng cao sức khỏe, tạo nền tảng về thể lực và trí tuệ của người dân. Những lĩnh vực này không thể đặt yêu cầu về lợi nhuận cao hoặc hiệu quả ngay lập tức, mà cần được nhìn nhận trong một chiến lược bền vững của Chính phủ cũng như của Đảng.

Theo Cục trưởng Cục Thống kê, việc doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường là một phần của quá trình tái cơ cấu, góp phần thúc đẩy sự điều chỉnh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Để quá trình này tạo ra những chuyển biến thực chất, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với lãi suất hợp lý, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và khuyến khích đổi mới mô hình hoạt động. Đây sẽ là cơ sở để doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và đóng góp tích cực hơn vào tăng trưởng kinh tế bền vững.

Phương Hà