Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy đã trao đổi với phóng viên Báo Công Thương trong bối cảnh cả nước hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt, định hướng lâu dài cho tiến trình phát triển đất nước.
Tập trung nguồn lực cho "tam nông"
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước yêu cầu chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, sâu hơn, bền vững hơn và có chất lượng hơn. Ở góc độ nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ông kỳ vọng gì vào cách Đại hội xác lập tư duy phát triển, đặc biệt là vai trò của ba Chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn tới?
Ông Hoàng Trọng Thủy: Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong một thời điểm rất đặc biệt, khi đất nước đứng trước yêu cầu chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, sâu hơn, bền vững hơn và có chất lượng hơn. Với nông nghiệp, nông dân, nông thôn, điều tôi quan tâm nhất là cách Đại hội xác lập tư duy phát triển. Đại hội trước hết là nơi định hình quan điểm, tầm nhìn và thứ tự ưu tiên. Khi tư duy đúng, định hướng rõ ràng, thì Chính phủ, hệ thống pháp luật và các cơ chế, chính sách sau đó mới có cơ sở để triển khai hiệu quả.
Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực, sinh kế ngày càng đa dạng. Ảnh minh họa
Trong bối cảnh đó, 3 chương trình mục tiêu quốc gia gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đều hướng trực tiếp tới nông thôn, nông dân và nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò hết sức quan trọng. Đây không chỉ là các chương trình mang tính an sinh hay hỗ trợ đơn thuần, mà thực chất là những “trụ đỡ” chiến lược, tạo dư địa và động lực phát triển cho khu vực nông thôn trong giai đoạn tới.
Trong giai đoạn 2021 - 2025, việc triển khai đồng bộ các chương trình này đã tạo ra những chuyển biến toàn diện tại khu vực nông thôn và các vùng khó khăn. Không chỉ góp phần quan trọng vào cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng bền vững, các chương trình còn làm thay đổi rõ nét diện mạo nông thôn, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của hàng chục triệu người dân. Việt Nam tiếp tục được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng về giảm nghèo và phát triển nông thôn gắn với các mục tiêu phát triển bền vững.
Tốc độ giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cao hơn mức bình quân chung của cả nước; thu nhập người dân được nâng lên; hạ tầng nông thôn và các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nước sạch được cải thiện rõ rệt. Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực, sinh kế ngày càng đa dạng; nhiều nội dung mới như chuyển đổi số, kinh tế xanh, du lịch nông thôn, OCOP từng bước phát huy hiệu quả. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế nông thôn được triển khai có trọng tâm, giúp nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định khoảng 3,18%/năm, kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 70 tỷ USD, mức cao kỷ lục.
Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư ba Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn trong việc nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nghị quyết đã kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về xây dựng nông thôn mới hiện đại, phát triển toàn diện vùng khó khăn và giảm nghèo đa chiều, bền vững.
Điểm đáng chú ý, Nghị quyết 257 thiết lập một khuôn khổ pháp lý thống nhất ở tầm Quốc hội, tích hợp 3 chương trình, qua đó khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo nguồn lực, đồng thời định hướng đầu tư dài hạn, tập trung và hiệu quả hơn. Nghị quyết không thu hẹp chính sách, mà ngược lại, tạo điều kiện ưu tiên mạnh mẽ hơn cho các vùng “lõi nghèo”, đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý và sử dụng nguồn lực. Trên nền tảng kết quả của giai đoạn 2021 - 2025, Nghị quyết này được kỳ vọng sẽ tạo ra những đột phá mới trong phát triển nông thôn, giảm nghèo và nâng cao chất lượng sống của người dân trong thời gian tới.
Việc triển khai đồng bộ, tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia sẽ giúp nguồn lực được tập trung hơn, thay vì dàn trải như trước. Theo tôi, điểm tích cực lớn nhất là khi các chương trình được “gom” lại, đầu tư cho hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và mở rộng không gian phát triển sẽ mang tính hệ thống, đồng bộ hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp lại đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, các chương trình mục tiêu quốc gia có thể trở thành công cụ quan trọng để điều tiết và phân bổ nguồn lực hài hòa hơn giữa các vùng, các địa phương.
- Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp có tác động như thế nào đến các chương trình mục tiêu quốc gia, thưa ông?
Ông Hoàng Trọng Thủy: Khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, cấp cơ sở sẽ được tăng cường cán bộ và thẩm quyền. Nếu làm tốt, đây là cơ hội để các chương trình mục tiêu quốc gia phát huy hiệu quả thực chất hơn, bởi chính quyền cơ sở là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện, hiểu rõ nhất người dân cần gì và vướng ở đâu.
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn rằng, việc tập trung nguồn lực lớn cho ba chương trình không tránh khỏi những bất cập. Để các chương trình vận hành trơn tru, cần hệ thống luật, nghị định, thông tư hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và phù hợp với thực tiễn. Nếu thể chế không theo kịp, thì nguồn lực dù lớn cũng khó phát huy hết hiệu quả.
Một vấn đề nữa là năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã. Đây là “tuyến đầu” của các chương trình, nhưng không phải ai cũng am hiểu sâu về nông nghiệp, giảm nghèo hay đặc thù đời sống người dân địa phương. Việc đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực cần có lộ trình dài hơi, không thể kỳ vọng giải quyết trong một sớm một chiều.
Không gian phát triển không thể chỉ là khái niệm
- Ông nhiều lần nhấn mạnh đến khái niệm ‘không gian phát triển’. Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn hiện nay?
Ông Hoàng Trọng Thủy: Hiện nay, chúng ta nói nhiều đến việc sáp nhập tỉnh, mở ra không gian phát triển mới. Nhưng khi hỏi cụ thể ‘không gian đó là gì’, thì không ít câu trả lời vẫn mang tính lý thuyết, chưa gắn với đời sống và sản xuất của người dân.
Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy. Ảnh: Báo Dân Việt
Theo tôi, không gian phát triển không phải là khái niệm trừu tượng. Nó phải được cụ thể hóa bằng hạ tầng: đường sá kết nối vùng sản xuất với trung tâm chế biến, trung tâm xã, khu công nghiệp, nhà máy; hệ thống kho bãi, logistics, giao thông nội vùng và liên vùng. Chỉ khi những yếu tố này được hình thành đồng bộ thì mới có thể nói đến không gian phát triển đúng nghĩa.
Ở đây, trách nhiệm của Nhà nước là rất rõ. Nhà nước phải kiến tạo ‘trục xương sống’ quốc gia, tức là hệ thống hạ tầng giao thông, logistics xuyên suốt từ miền núi phía Bắc đến tận mũi Cà Mau. Trên nền tảng đó, các địa phương, vùng miền phải chủ động xây dựng các tuyến kết nối ngang, giống như các ‘xương sườn’ gắn với xương sống để tạo thành một cơ thể hoàn chỉnh.
- Điều này đặt ra yêu cầu gì đối với địa phương, thưa ông?
Ông Hoàng Trọng Thủy: Địa phương phải có quy hoạch bài bản và huy động được nguồn lực đủ lớn. Không thể nói đến không gian phát triển nếu thiếu đường giao thông, thiếu kho bãi, thiếu kết nối từ nơi sản xuất đến nơi chế biến và tiêu thụ. Đây là bài toán rất khó, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, giữa đầu tư công và thu hút đầu tư tư nhân.
Trong Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã điều chỉnh bộ tiêu chí từ 19 xuống còn 10 tiêu chí cho giai đoạn 2026-2030 theo Quyết định 51/2025/QĐ-TTg và trao quyền chủ động lớn hơn cho địa phương là một bước tiến. Nhưng đi kèm với quyền là trách nhiệm. Chính quyền cơ sở phải thực sự năng động, sáng tạo và chịu trách nhiệm trước người dân.
Từ "hệ thống đẩy" sang "hệ thống kéo"
- Theo ông, đâu là những vấn đề then chốt để nông nghiệp thực sự bứt phá trong giai đoạn tới?
Ông Hoàng Trọng Thủy: Tôi cho rằng có ba vấn đề lớn. Thứ nhất là chuyển đổi tư duy từ “hệ thống đẩy” sang “hệ thống kéo”. Lâu nay, chúng ta quen với cách làm sản xuất rồi tìm cách bán ra thị trường. Đó là tư duy đẩy. Trong bối cảnh hội nhập sâu, cách làm này bộc lộ nhiều hạn chế. Ngược lại, với hệ thống kéo, bản thân nông nghiệp phải đủ mạnh, có nội lực tốt để thu hút vốn, đặc biệt là đầu tư tư nhân. Khi nông nghiệp trở thành lĩnh vực hấp dẫn, doanh nghiệp, tập đoàn và nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tự tìm đến. Khi đó mới hình thành được một hệ sinh thái hoàn chỉnh giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường.
Thứ hai là đầu tư cho nông nghiệp phải được xác lập rõ ràng trong các văn kiện Đại hội. Đầu tư cho nông nghiệp cũng phải gắn với cải cách thể chế, đặc biệt là chính sách đất đai. Chỉ khi thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất, đưa đất đai vào tay những người có năng lực quản lý, làm nông nghiệp giỏi, thì mới hình thành được sản xuất lớn, hiệu quả cao.
Thứ ba là con người, cụ thể là năng suất lao động nông nghiệp. Đây là điểm yếu kéo dài của Việt Nam. Năng suất chỉ có thể nâng lên khi lực lượng sản xuất là những nông dân chuyên nghiệp, có tri thức, kỹ năng, kỷ luật lao động và khi có đội ngũ doanh nghiệp nông nghiệp đủ mạnh. Ba yếu tố này nếu được thực hiện đồng bộ sẽ tạo thành “lực kéo” cho nông nghiệp phát triển.
- Chuyển đổi số và xúc tiến thương mại được nhắc đến nhiều như giải pháp then chốt. Quan điểm của ông ra sao?
Ông Hoàng Trọng Thủy: Tôi cho rằng, chuyển đổi số trong nông nghiệp hiện nay phải đi đúng trọng tâm. Thị trường 5-10 năm tới rất khó dự báo, nên điều cốt lõi là minh bạch hóa xuất xứ hàng hóa, truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Số hóa không chỉ phục vụ sản xuất, mà phải ưu tiên cho quản lý chuỗi cung ứng và xuất khẩu.
Điểm nghẽn lớn hiện nay là dữ liệu nông nghiệp chưa “sạch”. Từ số liệu về đàn gia súc, năng suất cây trồng đến dữ liệu thị trường đều thiếu độ tin cậy. Khi dữ liệu không chính xác, chuyển đổi số chỉ mang tính hình thức, còn hoạch định chính sách dựa trên kinh tế lượng sẽ không hiệu quả. Vì vậy, làm “sạch” dữ liệu phải là ưu tiên hàng đầu.
- Với tất cả những phân tích trên, ông nhìn nhận thế nào về mục tiêu nâng cao thu nhập cho nông dân?
Ông Hoàng Trọng Thủy: Ở bất kỳ quốc gia nào, nông dân khó có thể đạt mức thu nhập bình quân ngang bằng các khu vực kinh tế khác. Ngay cả ở các nước phát triển, nông dân vẫn có thu nhập thấp hơn mặt bằng chung. Vì vậy, mục tiêu thực tế không phải là “bằng”, mà là bảo đảm cuộc sống no đủ, có tích lũy và từng bước vươn lên tầng lớp trung lưu. Nếu đã đặt mục tiêu tăng thu nhập, cần lượng hóa bằng những con số cụ thể, thay vì chỉ dừng ở khẩu hiệu.
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh khát vọng phát triển của người dân ngày càng rõ nét. Người dân không chỉ mong tăng trưởng kinh tế, mà còn kỳ vọng vào một xã hội công bằng, minh bạch hơn, nơi cơ hội phát triển không bị giới hạn bởi nơi sinh ra. Những kỳ vọng đó đòi hỏi tư duy quản trị mới, lấy người dân làm trung tâm. Nếu nông nghiệp, nông dân, nông thôn thực sự được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng vào một kỷ nguyên phát triển bền vững và thịnh vượng.
- Xin cảm ơn ông!