Tăng trưởng cao trong bối cảnh dư địa chính sách thu hẹp
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước một ngưỡng phát triển mới, với khát vọng vươn lên mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Văn kiện Đại hội tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh gắn với bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tuy nhiên, khác với nhiều giai đoạn trước, mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn tới được đặt ra trong bối cảnh kinh tế, chính sách khắt khe hơn, buộc các động lực phát triển phải được nhìn nhận lại từ nền tảng.
Thực tiễn cho thấy, dư địa tăng trưởng dựa trên mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên hay lao động giá rẻ đang dần thu hẹp. Trong khi đó, môi trường kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều bất định, tạo sức ép lên điều hành vĩ mô trong nước.
Lạm phát và tỷ giá chịu tác động đa chiều từ các yếu tố bên ngoài, đòi hỏi chính sách tiền tệ, tài khóa phải được điều hành thận trọng để giữ ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều này cho thấy, tăng trưởng cao trong giai đoạn tới không thể dựa vào các biện pháp ngắn hạn, mà phải dựa trên việc củng cố nền tảng phát triển dài hạn.
Bước sang giai đoạn 2025 - 2026, câu chuyện tăng trưởng của kinh tế Việt Nam không chỉ là nhanh hay chậm, mà là tăng trưởng dựa trên nền tảng nào và được duy trì bằng động lực gì. Khi dư địa chính sách không còn dồi dào như trước, yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng trở thành đòi hỏi mang tính bắt buộc.
Ông Phan Đức Hiếu - Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Ảnh: Tiến Thành
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Phan Đức Hiếu - Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, “thách thức cốt lõi không nằm ở con số tăng trưởng cao hay thấp, mà ở việc làm thế nào để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong khi vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế”.
Trong bối cảnh đó, cải cách thể chế được xem là dư địa quan trọng nhất còn lại để khơi thông nguồn lực, giảm chi phí cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội.
Mục tiêu tăng trưởng cao cho năm 2026 vì thế đã đẩy yêu cầu cải cách lên một nấc mới, với chuẩn mực cao hơn so với các nghị quyết và văn bản trước đây. Cải cách không còn dừng ở việc “tạo thuận lợi”, mà phải hướng tới giảm chi phí thực chất, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố niềm tin thị trường. Đây cũng là lý do cải cách thể chế được đặt ở vị trí trung tâm trong các định hướng lớn của Đại hội XIV.
Thể chế phải trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tinh thần xuyên suốt của Đại hội XIV là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Trong cách tiếp cận đó, thể chế không chỉ là công cụ điều tiết, mà phải trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia.
“Thể chế chỉ thực sự có giá trị khi được thực thi hiệu quả, giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao khả năng dự báo và yên tâm đầu tư dài hạn”, ông Phan Đức Hiếu chia sẻ.
Thực tế cho thấy, trong nhiều lĩnh vực, chính sách không thiếu nhưng khâu tổ chức thực hiện vẫn là điểm nghẽn. Luật được ban hành nhanh, song nghị định, thông tư hướng dẫn còn chậm; thủ tục hành chính chồng chéo; cách hiểu và áp dụng chính sách chưa thống nhất giữa các cấp, các địa phương. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao, những hạn chế này không còn là vấn đề kỹ thuật đơn thuần, mà có thể trở thành lực cản trực tiếp đối với nền kinh tế.
Trong bối cảnh mới, Đại hội XIV đặt ra yêu cầu phát triển nhanh gắn với bền vững, cải cách thể chế được xác định là yếu tố quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển. Ảnh: VGP
Đối với ngành Công Thương, yêu cầu cải cách thể chế gắn với thực thi càng trở nên rõ nét. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi một môi trường chính sách ổn định, minh bạch để doanh nghiệp có thể đầu tư dài hạn, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng đi kèm các tiêu chuẩn cao về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc, khiến thể chế nếu không theo kịp sẽ trở thành rào cản thay vì bệ đỡ cho doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực năng lượng và hạ tầng, cải cách thể chế cũng giữ vai trò quyết định đến chất lượng tăng trưởng. Đầu tư công tiếp tục được coi là lực đỡ quan trọng, nhưng đồng thời là phép thử lớn về năng lực thực thi. Các công trình hạ tầng có vòng đời dài, ảnh hưởng lâu dài đến năng lực phát triển của nền kinh tế, vì vậy nếu chạy theo tiến độ mà coi nhẹ chất lượng, cái giá phải trả sẽ không dừng lại ở một năm ngân sách, mà kéo dài nhiều năm sau đó.
Từ tinh thần Đại hội XIV, có thể thấy cải cách thể chế trong giai đoạn tới không chỉ là nhiệm vụ của riêng một cơ quan, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống. Với ngành Công Thương, yêu cầu đặt ra là phải chuyển hóa tinh thần cải cách thành hành động cụ thể, đo lường được bằng sự chuyển biến thực chất của môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh mới, cải cách thể chế được xác định là yếu tố quan trọng nhằm khơi thông các nguồn lực cho phát triển, nâng cao chất lượng tăng trưởng. Trọng tâm của cải cách không chỉ nằm ở việc hoàn thiện chính sách, mà ở nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, qua đó tạo môi trường ổn định, minh bạch và củng cố năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.