Đóng

Đánh thức điện mặt trời mái nhà phương Nam: Kỳ 3 - Từ nhà xưởng đến mái nhà dân, lợi ích đong bằng tiền

Không chỉ là tấm hộ chiếu xanh của doanh nghiệp xuất khẩu, điện mặt trời mái nhà còn là bài toán cơm áo gạo tiền rất cụ thể của mỗi hộ dân và là phép nêu gương của khu vực công.

Có một con số đáng để dừng lại: ở một nhà máy ống thép tại Long An, hệ thống điện mặt trời mái nhà công suất 10 MW trải trên 82.000 m² mái xưởng đang giúp cắt 30 - 35% chi phí điện so với những cơ sở chưa lắp. Cùng lúc đó, cách hàng trăm cây số, một gia đình ở phía Nam chỉ phải bỏ ra khoảng 7 triệu đồng cho một bộ thiết bị nhỏ gắn dưới một tấm pin, và mỗi tháng bớt được gần một phần ba tiền điện. Khoảng cách về quy mô là rất lớn, nhưng bản chất câu chuyện thì giống nhau: nguồn điện trên mái nhà đang trả lại lợi ích đo được bằng tiền.

Đó cũng là điểm khiến điện mặt trời mái nhà khác với nhiều khẩu hiệu xanh khác. Nó không chỉ tốt cho môi trường một cách trừu tượng, mà còn hiện ra ngay trên hóa đơn cuối tháng. Vì lợi ích cụ thể như vậy, nó chạm tới cả ba nhóm chủ thể của nền kinh tế cùng lúc: doanh nghiệp đang cần một tấm "hộ chiếu xanh" để giữ đơn hàng, hộ gia đình đang muốn nhẹ gánh chi tiêu và khu vực công sở đang được giao trách nhiệm đi trước nêu gương.

Nếu cách đây vài năm, điện mặt trời mái nhà chủ yếu được doanh nghiệp nhìn dưới góc độ tiết kiệm chi phí, thì nay, với nhiều nhà máy sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đây đã trở thành một phần của chiến lược phát triển bền vững. Sức ép không đến từ trong nước, mà đến từ phía khách hàng quốc tế.

Tại Công ty TNHH Ampacs International, một doanh nghiệp FDI đến từ Đài Loan (Trung Quốc), hệ thống điện mặt trời mái nhà công suất 3.659 kWp được lắp trên diện tích mái hơn 15.700 m², tổng vốn khoảng 32 tỷ đồng. Theo số liệu doanh nghiệp cung cấp, hệ thống đáp ứng khoảng 21% nhu cầu điện nội bộ, giúp tiết kiệm hơn 11 tỷ đồng mỗi năm, hoàn vốn trong khoảng 3 đến 4 năm và cắt giảm khoảng 2.710 tấn CO₂ mỗi năm. Đại diện công ty cho biết áp lực từ khách hàng quốc tế ngày càng lớn: nhiều đối tác yêu cầu phải chứng minh tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải carbon và từng bước đáp ứng các cam kết bền vững trong chuỗi cung ứng.

Thực tế đó không riêng một doanh nghiệp. Theo Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), nhiều doanh nghiệp FDI đang chịu sức ép ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn quốc tế như ESG, RE100 hay Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu. Ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng giám đốc EVNSPC, nhận định nhu cầu đầu tư điện mặt trời mái nhà tại các khu công nghiệp phía Nam hiện không còn đơn thuần là bài toán tiết kiệm điện, mà đang trở thành giải pháp giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của khách hàng toàn cầu về năng lượng sạch và giảm phát thải.

Câu chuyện của Công ty TNHH Hyosung Việt Nam cho thấy rõ áp lực đó. Doanh nghiệp đã triển khai điện mặt trời trên 5 mái nhà xưởng với tổng công suất khoảng 2,5 MW, diện tích hơn 36.000 m². Theo doanh nghiệp, hệ thống giúp tiết kiệm khoảng 800 triệu đồng tiền điện mỗi tháng, tương đương gần 10 tỷ đồng mỗi năm, và năm 2026 công ty tiếp tục đầu tư thêm khoảng 11 MW trên phần mái còn lại. Ông Dương Văn Hạnh, đại diện Hyosung Việt Nam nói rằng, đây không chỉ là quyết định đầu tư năng lượng mà là một phần trong chiến lược dài hạn. Bài học của họ là phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ ngay từ đầu về điện, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy đến môi trường... Nhà xưởng nào đủ điều kiện làm ngay, chưa đủ thì hoàn thiện trước để tránh vướng mắc pháp lý về sau.

Nếu Ampacs và Hyosung đại diện cho sức ép từ thị trường quốc tế, thì doanh nghiệp trong nước nhìn thấy thêm một lợi ích khác: hiệu quả tài chính lâu dài. Tại Nhà máy Ống thép Hòa Phát Long An thuộc Công ty TNHH Ống thép Hòa Phát, điện mặt trời mái nhà được đưa vào kế hoạch ngay từ khâu thiết kế xây dựng năm 2024, công suất 10 MW trên diện tích mái khoảng 82.000 m². Theo doanh nghiệp, làm đồng thời với quá trình xây dựng giúp các thủ tục về xây dựng, phòng cháy chữa cháy và kết nối kỹ thuật được chuẩn bị từ sớm, hạn chế phát sinh vướng mắc khi vận hành; so với một số nhà máy khác trong hệ thống chưa lắp, cơ sở Long An tiết kiệm khoảng 30 đến 35% chi phí điện năng.

Với những doanh nghiệp lớn, điện mặt trời mái nhà đang được nhìn như một khoản đầu tư chiến lược chứ không phải giải pháp tiết kiệm ngắn hạn. Ông Vũ Văn Thanh, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen, cho rằng một dự án hiệu quả phải dựa trên năm yếu tố: đúng nhu cầu, đúng quy mô, đúng giải pháp, đúng thiết bị và thi công đúng kỹ thuật. Hoa Sen đã lắp tại nhiều nhà máy và tổng kho trên cả nước; riêng cụm nhà máy tại Phú Mỹ, theo doanh nghiệp, đang vận hành hệ thống khoảng 14 MWp, sản xuất hơn 1,6 triệu kWh điện mỗi tháng, đáp ứng khoảng 15% nhu cầu điện ban ngày và giảm khoảng 12.500 tấn CO₂ mỗi năm. Trong bối cảnh xanh hóa sản xuất ngày càng khắt khe, lượng phát thải cắt giảm không chỉ mang ý nghĩa môi trường mà trở thành một lợi thế kinh doanh cụ thể.

Khoảng cách giữa nhu cầu và thực tế vẫn còn rất rộng. Đại diện Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh cho biết, nhu cầu trong cộng đồng doanh nghiệp vẫn rất lớn, đặc biệt ở các ngành xuất khẩu, khảo sát cho thấy khoảng 68% doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư, trong khi số dự án thực tế triển khai còn khiêm tốn. Chính khoảng cách ấy cho thấy dư địa thị trường còn nhiều và khi hành lang pháp lý từng bước hoàn thiện, điện mặt trời mái nhà nhiều khả năng không chỉ là giải pháp tiết kiệm điện mà trở thành một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh trong giai đoạn chuyển đổi xanh. Tấm "hộ chiếu xanh", nói cho cùng, là điều kiện để ở lại trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thời gian hoàn vốn của các mô hình lắp đặt phổ biến.

Câu chuyện sẽ còn dở dang nếu chỉ dừng ở nhà xưởng. Bởi mục tiêu của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt ra đến năm 2030 là khoảng 50% mái nhà công sở và hộ gia đình lắp điện mặt trời. Nửa còn lại của bài toán nằm ở những mái nhà dân, nơi lợi ích phải được nói bằng đúng ngôn ngữ cơm áo gạo tiền thì người dân mới làm.

Ông Nguyễn Thượng Quân, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Tích hợp Sao Nam, đơn vị đã trực tiếp lắp đặt cho rất nhiều hộ dân ở Đồng Nai, đưa ra một loạt ví dụ tính bằng tiền thật. Nguyên tắc của ông gói trong một câu: không nhất thiết phải phủ kín toàn bộ nhu cầu, chỉ cần cắt được phần điện nằm ở những bậc giá cao nhất thì hiệu quả kinh tế đã rất rõ.

Hãy bắt đầu từ một hộ rất nhỏ. Với hộ có hóa đơn khoảng 800.000 đồng mỗi tháng, mức dùng bình quân khoảng 10 kWh mỗi ngày, tức khoảng 300 kWh mỗi tháng, theo ông Quân có thể áp dụng một công nghệ rất mới là Micro Inverter, thậm chí không cần lưu trữ. Chỉ cần một bộ Micro Inverter công suất khoảng 600W cùng một tấm pin quang điện 730 Wp gắn trực tiếp bên dưới, gia chủ có thể tự mua về lắp. Mỗi ngày hệ thống làm ra khoảng 3 kWh, tương đương khoảng 90 kWh mỗi tháng. Chi phí cho bộ thiết bị này hiện chỉ khoảng 7 triệu đồng, lắp đặt đơn giản, thời gian hoàn vốn khoảng 2 năm. Đáng chú ý hơn, với hộ nhỏ này, mô hình có thể giúp giảm tới khoảng 30% lượng điện mua từ lưới. Ông Quân nhắc lại ý của một diễn giả trước đó rằng mỗi hộ chỉ cần tiết kiệm 1 kWh mỗi ngày đã là đóng góp đáng kể, còn ở đây một hộ đã đóng góp tới 3 kWh mỗi ngày. Nếu có hàng triệu mái nhà cùng làm, mục tiêu chung hoàn toàn trong tầm tay.

Lên một bậc, với hộ có hóa đơn khoảng 2,4 triệu đồng mỗi tháng, tương ứng khoảng 720 kWh, ông Quân đề xuất "đo ni đóng giày" một hệ thống gồm 6 kWp điện mặt trời kết hợp bộ lưu trữ 16 kWh. Ở khu vực từ miền Trung trở vào Nam, hệ thống này có thể làm ra khoảng 720 kWh mỗi tháng, gần như đủ bù toàn bộ nhu cầu, nghĩa là hộ gia đình gần như không còn phải trả tiền điện cho EVN. Chi phí đầu tư trên thị trường hiện nay cho gói này vào khoảng 100 triệu đồng, lấy mức tiết kiệm khoảng 2,4 triệu đồng mỗi tháng để chia, thời gian hoàn vốn rơi vào khoảng 3,5 năm. Với hộ chưa đủ khả năng đầu tư lớn, có thể chọn gói nhỏ hơn là 3 kWp kết hợp lưu trữ 5 kWh, làm ra khoảng 360 kWh mỗi tháng, chi phí khoảng 50 triệu đồng, đủ để cắt phần điện ở bậc cao nhất là bậc 6, tiết kiệm khoảng 1,3 triệu đồng mỗi tháng và hoàn vốn còn ngắn hơn, khoảng 3,2 năm.

Với hộ khá giả hơn, hóa đơn khoảng 4 triệu đồng mỗi tháng, tương ứng khoảng 37 kWh mỗi ngày, vẫn với khoản đầu tư khoảng 100 triệu đồng cho hệ 6 kWp kèm lưu trữ 16 kWh, hộ này cắt được phần điện ở bậc giá cao nhất, và thời gian hoàn vốn rút xuống còn khoảng 3,1 năm. Điểm chung của cả ba ví dụ là cùng một logic: giá điện sinh hoạt được tính theo biểu 6 bậc, càng dùng nhiều càng đắt, nên chỉ cần dùng nguồn điện trên mái để gọt đi phần tiêu thụ ở bậc 5 và bậc 6, hiệu quả đã đến rất nhanh.

Ông Quân nói thêm một ý đáng suy nghĩ: thời gian hoàn vốn trên thực tế có thể còn nhanh hơn tính toán, bởi giá điện về lâu dài có xu hướng tăng, mà giá điện tăng thì giá trị phần điện tiết kiệm được càng lớn. Ở góc độ đầu tư, một dự án hoàn vốn khoảng 3,5 năm đã là dự án đáng cân nhắc, và ở quy mô hộ gia đình thì càng nên xem xét. Quan trọng nhất, theo ông, là cách truyền thông phải "thiết thực", tức nói cho người dân thấy rất cụ thể mỗi tháng họ tiết kiệm được bao nhiêu tiền, chứ không nói chung chung. Khi người dân nhìn ra lợi ích cụ thể, mục tiêu tiết kiệm điện và phát triển mái nhà mới thật sự có cơ sở.

Nhiều nhà máy phía Nam đã lắp điện mặt trời mái nhà quy mô lớn.

Khu vực công sở là mảnh ghép thứ ba và là mảnh đang gần như chưa được triển khai thực chất. Mục tiêu 50% mái nhà công sở lắp điện mặt trời không thể đạt nếu cơ quan nhà nước chỉ kêu gọi mà không tự mình đi trước. Điều đáng nói là khi tính bằng tiền, khu vực công lại có một lợi thế riêng.

Ông Nguyễn Thượng Quân cho biết, Sao Nam đã triển khai cho khá nhiều trụ sở phường và nêu một ví dụ điển hình. Một trụ sở phường quy mô trung bình mỗi tháng tiêu thụ khoảng 4.000 kWh điện, công suất tức thời khoảng 20 kW, hóa đơn khoảng 8,6 triệu đồng, áp giá hành chính sự nghiệp khoảng 2.400 đồng mỗi kWh. Với đối tượng này, có thể lắp một hệ thống 20 kWp mà không cần lưu trữ, bởi đặc điểm của công sở là dùng điện chủ yếu vào ban ngày, đúng lúc mặt trời làm ra điện, nên điện làm ra hầu như được dùng ngay, gần như không có phần dư để phải tích trữ. Chi phí đầu tư cho gói này vào khoảng 160 triệu đồng, mỗi ngày hệ thống làm ra khoảng 80 kWh, giúp cắt giảm khoảng 53% lượng điện mua từ lưới, và thời gian hoàn vốn vào khoảng 2,7 năm.

Đây là một con số biết nói. Không cần lưu trữ, không cần kỹ thuật phức tạp, một trụ sở phường có thể cắt hơn một nửa hóa đơn điện và thu hồi vốn trong chưa đầy ba năm. Với một cơ quan hành chính, đó vừa là khoản tiết kiệm ngân sách, vừa là một thông điệp: khu vực công không chỉ ra chủ trương mà còn tự chứng minh chủ trương ấy có lợi. Trường học, bệnh viện, trụ sở cơ quan, những nơi tiêu thụ điện cao điểm vào ban ngày, chính là nhóm phù hợp nhất với đặc tính của điện mặt trời mái nhà. Khi khu vực công đi trước, người dân và doanh nghiệp có thêm một bằng chứng thực địa để tin và để làm theo.

Nhu cầu lớn nhưng số dự án thực tế còn khiêm tốn.

Nhìn lại cả ba mảng, có thể thấy điện mặt trời mái nhà đang vận hành như một câu chuyện ba lớp lợi ích trên cùng một mái nhà. Doanh nghiệp đầu tư vì tấm hộ chiếu xanh để giữ đơn hàng và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu, lợi ích của họ gắn với năng lực cạnh tranh. Hộ gia đình lắp vì bài toán cơm áo gạo tiền, mỗi tháng bớt vài trăm nghìn đến vài triệu đồng tiền điện, lợi ích của họ gắn với chi tiêu gia đình. Công sở làm vì trách nhiệm nêu gương và tiết kiệm ngân sách, lợi ích của họ gắn với mục tiêu chung của khu vực công.

Ba chủ thể, ba động lực, nhưng tất cả quy về một mẫu số: lợi ích đo được bằng tiền, hoàn vốn trong khoảng hai đến bốn năm. Vì động lực không nằm ở trợ giá mà nằm ngay trong hóa đơn của mỗi người, ba dòng lợi ích ấy khi cộng lại sẽ tạo thành lực đẩy thị trường thực chất và bền hơn một cơ chế ưu đãi nhất thời. Doanh nghiệp còn cần xanh hóa để xuất khẩu, người dân còn muốn nhẹ gánh hóa đơn, khu vực công còn đi trước nêu gương, thì nguồn điện trên mái nhà sẽ tự có lý do để lớn lên, miễn là hành lang chính sách đủ thông suốt để không cản đường lợi ích chính đáng đó.

Số liệu hộ gia đình và công sở dẫn theo phân tích của ông Nguyễn Thượng Quân, Công ty Công nghệ Tích hợp Sao Nam. Số liệu doanh nghiệp (Ampacs, Hyosung, Hòa Phát Long An, Hoa Sen) trong bài do doanh nghiệp cung cấp.

Thanh Hậu - Thừa Ngọc - Tiến Phòng - Ngọc Lan