Làn sóng đầu tư điện tử - bán dẫn đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho Bắc Ninh, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách về thiếu hụt nhân lực kỹ thuật. Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026, ông Nguyễn Công Thông - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn Bắc Giang đã chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về định hướng đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn.
Ông Nguyễn Công Thông - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn Bắc Giang (Bắc Ninh). Ảnh: CĐCNVHBG
FDI đòi hỏi lao động làm việc ngay sau đào tạo
- Thưa ông, trong "bức tranh" phát triển công nghiệp bán dẫn của Bắc Ninh hiện nay, ông nhìn nhận về vai trò của các trường cao đẳng đào tạo nghề như thế nào?
Ông Nguyễn Công Thông: Bắc Ninh hiện là một trong những trung tâm sản xuất điện tử lớn nhất cả nước, với sự hiện diện của nhiều tập đoàn FDI như Samsung, Foxconn, Canon, Amkor, Goertek… Năm 2024, giá trị sản xuất ngành điện tử, vi tính và sản phẩm quang học chiếm hơn 79,1% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Điều này cho thấy công nghiệp điện tử - bán dẫn không chỉ có dư địa phát triển lớn, mà đã và đang giữ vai trò trụ cột trong tăng trưởng công nghiệp địa phương.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở vốn hay công nghệ, mà ở nguồn nhân lực. Dù tỷ lệ lao động qua đào tạo của Bắc Ninh đạt khoảng 78%, song lao động có kỹ năng chuyên sâu, đáp ứng trực tiếp yêu cầu của ngành bán dẫn vẫn còn thiếu hụt rõ rệt. Riêng các dự án lớn như Amkor Bắc Ninh, khi vận hành toàn công suất, dự kiến cần tới 7.000 lao động, định hướng đến năm 2035 khoảng 10.000 lao động. Tổng nhu cầu nhân lực bán dẫn của tỉnh đến năm 2030 ước khoảng 10.000-15.000 người.
Trong bối cảnh đó, các trường cao đẳng nghề giữ vai trò “xương sống” trong hệ thống đào tạo nhân lực kỹ thuật. Hiện nay, Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn Bắc Giang hiện có gần 7.000 sinh viên, trong đó khoảng 60% theo học các ngành phục vụ trực tiếp cho công nghiệp bán dẫn như điện, điện tử, điện công nghiệp, tự động hóa, cơ điện tử, công nghệ thông tin.
- Vậy nhu cầu của doanh nghiệp FDI đang đặt ra những yêu cầu gì đối với công tác đào tạo nhân lực bán dẫn tại Bắc Ninh, thưa ông?
Ông Nguyễn Công Thông: Điểm khác biệt lớn nhất của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực bán dẫn là họ không chỉ cần số lượng lao động lớn, mà yêu cầu rất cao về chất lượng và tính sẵn sàng làm việc. Lao động phải hiểu quy trình sản xuất, quen với môi trường nhà máy, có tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ.
Chính vì vậy, doanh nghiệp FDI mong muốn các cơ sở đào tạo tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nhân lực theo hướng “đặt hàng” đào tạo. Chương trình đào tạo phải bám sát dây chuyền sản xuất thực tế, tăng thời lượng thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể làm việc ngay, hạn chế tối đa thời gian đào tạo lại.
Hợp tác quốc tế, cơ hội cho nhân lực bán dẫn hội nhập
- Để đảm bảo nguồn nhân lực, Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn Bắc Giang đã cụ thể hóa mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp như thế nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Công Thông: Nhà trường xác định rất rõ rằng, muốn đào tạo hiệu quả cho ngành bán dẫn thì không thể “đóng cửa” trong khuôn viên trường. Vì vậy, chúng tôi đã chủ động tìm kiếm và thiết lập quan hệ hợp tác với doanh nghiệp ngay từ sớm.
Tiêu biểu là mô hình hợp tác đào tạo với Công ty TNHH Hana Micron Vina. Doanh nghiệp tham gia trực tiếp từ khâu xây dựng chương trình, cử chuyên gia kỹ thuật giảng dạy, hướng dẫn thực hành, đến tiếp nhận sinh viên thực tập. Các lớp đào tạo theo đơn đặt hàng đã giúp sinh viên tiếp cận công nghệ, thiết bị và quy trình sản xuất hiện đại, sớm hình thành tác phong công nghiệp.
Kết quả cho thấy hiệu quả rất rõ rệt. Nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp được tuyển dụng ngay với mức thu nhập từ 14 đến 18 triệu đồng/tháng, cao hơn mặt bằng chung của sinh viên mới ra trường.
- Theo ông, hợp tác quốc tế đóng vai trò như thế nào trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực bán dẫn?
Ông Nguyễn Công Thông: Tôi cho rằng, công nghiệp bán dẫn là ngành có tính toàn cầu hóa rất cao, do đó, hợp tác quốc tế là yêu cầu bắt buộc nếu muốn nâng cao chất lượng đào tạo. Nhà trường tập trung hợp tác với các đối tác nước ngoài, đặc biệt là Hàn Quốc, để chuyển giao chương trình đào tạo, công nghệ và phương pháp giảng dạy hiện đại.
Việc phối hợp với Trường Korea Polytechnics tổ chức các lớp chuyên ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo đã giúp sinh viên tiếp cận kiến thức cập nhật, học tập trong môi trường quốc tế, sử dụng tiếng Anh và tiếng Hàn chuyên ngành. Song song với đó là các chương trình liên kết đào tạo, cho phép sinh viên học tập, làm việc tại nước ngoài trước khi quay về phục vụ doanh nghiệp trong nước.
- Trước yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp và thị trường, nhà trường định hướng và đặt kỳ vọng gì trong việc cung ứng nguồn nhân lực bán dẫn trong thời gian tới, thưa ông?
Ông Nguyễn Công Thông: Trong thời gian tới, nhà trường xác định mở rộng hợp tác quốc tế và nâng cao chất lượng đào tạo ngành công nghiệp bán dẫn là định hướng chiến lược lâu dài. Chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển chương trình đào tạo theo chuẩn doanh nghiệp và chuẩn quốc tế, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và mở rộng cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên.
Mục tiêu cuối cùng là góp phần cung ứng nguồn nhân lực bán dẫn chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đồng thời đóng góp vào chiến lược xây dựng Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp bán dẫn hàng đầu miền Bắc và của Việt Nam trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ.
Trân trọng cảm ơn ông!
Định hướng của tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới: Thu hút phát triển công nghiệp bán dẫn theo chiều sâu và phát triển khu công nghệ thông tin tập trung trong đó ưu tiên thu hút phát triển công nghiệp bán dẫn tại các địa bàn trọng điểm. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo đầy đủ nguồn lực: kỹ sư, chuyên gia về vi mạch theo Chỉ thị số 43/CT-TTg và Quyết định số 1017/QĐ-TTg; Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo tối thiều 30.050 lao động ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, trong đó trình độ đại học: 550 người (chiếm 1,8%), cao đẳng: 13.000 người (43,3%), trình độ trung cấp và đào tạo nâng cao, chuyển đổi: 16.500 người (54,9%).