Đóng

Để nón lá của người Tày không… biến mất

Xã Tân An, huyện Chiêm Hóa được coi là một trong những cái nôi văn hóa dân tộc Tày ở Tuyên Quang. Bên cạnh nghi lễ Then nổi tiếng, tại đây, nghề đan nón lá từng là một trong những nét văn hóa của phụ nữ Tày. Tuy nhiên, trước những ảnh hưởng của lối sống hiện đại, việc làm nón cũng như giá trị của chiếc nón Tày đang dần bị mai một.

Cần bảo tồn nghề làm nón truyền thống của người Tày

Bà Ma Thị Lống, 64 tuổi, thôn Tân Thịnh, nhớ lại, khi bà về nhà chồng, ngoài những lễ vật mang theo, như: chăn, màn, chậu, chiếu... còn có chiếc nón Tày. Người Tày quan niệm, chiếc nón là vật để trao duyên của người con gái với người con trai với ngụ ý muốn chăm sóc người con trai đến “đầu bạc, răng long”.

Bên cạnh đó, chiếc nón còn thể hiện sự khéo léo, duyên dáng của cô gái Tày. Cũng chính bởi những ý nghĩa đó mà việc làm nón đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ.

Làm một chiếc nón phải mất từ 4 - 6 ngày. Lá cọ được chọn để làm nón phải là lá bánh tẻ. Khi lấy lá về thì hơ qua lửa rồi đem ra phơi sương 2 - 3 đêm cho lá khô và phai hết màu xanh. Lá càng trắng làm nón càng đẹp. Mỗi chiếc nón gồm 2 phần, phần ngoài được xếp theo hình chóp từ 2 – 3 tàu lá cọ đã được phơi khô. Phần bên trong là những sợi lạt tre nhỏ được đan cầu kỳ thành các mắt hình lục giác đều. Bước này rất khó, các mắt hình lục giác càng nhỏ bao nhiêu thì nón càng đẹp và bền bấy nhiêu. Sau đó, hai phần được ép chặt vào nhau bằng những vòng guột (hoặc tre) màu sậm và buộc chặt bằng lạt giang. Chính bởi vậy, độ bền nón Tày gấp nhiều lần so với nón của người Kinh. Có lẽ chính bởi sự tỉ mỉ, kỳ công như vậy mà chiếc nón dân tộc Tày ngày càng ít, người biết làm nón Tày chỉ còn các cụ cao tuổi. Bà Đinh Thị Tình, 56 tuổi, thôn Tân Thịnh tâm sự, có lẽ, chỉ vài năm nữa thôi nghề đan nón lá sẽ không còn, bởi thế hệ trẻ nơi đây chẳng còn đội nón lá nữa. Hiện trong thôn 100% là người Tày nhưng chỉ có 2 đến 3 người biết làm nón. Hơn nữa, người biết làm đều là người già, trẻ nhất cũng đã gần 50 tuổi rồi.

Thiếu nữ Tày e ấp bên chiếc nón lá

Không chỉ là cách làm mà phong tục đội nón của người Tày cũng không còn phổ biến bởi nón Tày không còn phù hợp khi tham gia giao thông, sản xuất lại mất nhiều thời gian. Trong khi đó, trên thị trường ngày càng có nhiều sản phẩm đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân, giá rất rẻ. Vai trò của chiếc nón dân tộc Tày theo đó giảm xuống, không còn được như trước.

Trước tình hình nghề làm nón lá của người Tày có nguy cơ bị mai một, bà Trần Thị Thanh Tâm, Trưởng phòng Văn hóa, Thông tin huyện Chiêm Hóa cho biết: Phòng đã tham mưu với cấp trên các phương án bảo tồn văn hóa dân tộc. Chỉ đạo các xã, các thôn bản lên kế hoạch phục dựng các làng nghề truyền thống như thêu, dệt vải, đan lát, đặc biệt là nghề đan nón lá của người Tày. Trong thời gian tới, phòng Văn hóa, Thông tin huyện Chiêm Hóa tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phối hợp với những người biết cách làm nón để tổ chức truyền dạy, qua đó lưu giữ và phát huy được nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày.

Giữa những thay đổi của cuộc sống, những người như bà Lống, bà Tình vẫn cần mẫn giữ cho chiếc nón truyền thống của đồng bào tăng vẹn nguyên giá trị. Mong rằng, truyền thống ấy sẽ được thế hệ trẻ kế thừa để không chỉ là nón lá của người Tày, mà nhiều nét đẹp văn hóa dân tộc sẽ được bảo tồn bền vững.

Châu long