Từng bước hình thành đội ngũ luật sư chuyên nghiệp
Sáng 20/4, tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội nghe Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra về dự thảo Nghị quyết về thí điểm thực hiện chế định luật sư công.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình Dự án Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm thực hiện chế định luật sư công
Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nêu rõ, việc ban hành Nghị quyết về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công là yêu cầu khách quan, cấp thiết, xuất phát từ cả cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn.
Về cơ sở chính trị, chủ trương phát triển các hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, hoàn thiện các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án đã được Đảng xác định trong các văn kiện Đại hội XIII và XIV, với định hướng phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý, nâng cao năng lực bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu hình thành chế định luật sư công.
Đặc biệt, tại Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026, Bộ Chính trị đã chính thức thông qua chủ trương thí điểm chế định luật sư công tại một số bộ, ngành và địa phương trong thời gian từ ngày 1/10/2026 đến ngày 30/9/2028, đồng thời yêu cầu khẩn trương thể chế hóa để triển khai thực hiện.
Về cơ sở thực tiễn, yêu cầu hình thành đội ngũ luật sư công xuất phát từ những bất cập nổi lên trong hoạt động của khu vực nhà nước. Cụ thể, trong tố tụng hành chính, số lượng vụ án tăng nhanh, tính chất ngày càng phức tạp, trong khi tỷ lệ giải quyết còn hạn chế; nhiều cơ quan nhà nước gặp khó khăn trong tham gia tố tụng, chuẩn bị hồ sơ, dẫn đến hiệu quả bảo vệ lợi ích của nhà nước chưa cao.
Trong xử lý các dự án kinh tế - xã hội và giao dịch quốc tế, còn số lượng lớn dự án tồn đọng, vướng mắc pháp lý đòi hỏi năng lực tư vần chuyên sâu; rủi ro pháp lý trong các hợp đồng, dự án quốc tế ngày càng gia tăng.
Trong giải quyết tranh chấp quốc tế, các vụ kiện đầu tư, thương mại quốc tế ngày càng phổ biến và phức tạp; thực tiễn cho thấy có trường hợp thiếu sự tham gia kịp thời của luật sư, làm giảm hiệu quả bảo vệ lợi ích quốc gia.
Bên cạnh đó, trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, số vụ việc phức tạp, kéo dài, đặc biệt liên quan đến đất đai, tăng mạnh, tạo áp lực lớn lên bộ máy hành chính, đặt ra nhu cấu hỗ trợ pháp lý chuyên nghiệp ngày càng cao đối với các cơ quan nhà nước.
Việc ban hành Nghị quyết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thí điểm chế định luật sư công, qua đó từng bước hình thành đội ngũ luật sư chuyên nghiệp trong khu vực nhà nước, góp phần tăng cường bảo vệ lợi ích của nhà nước, nâng cao chất lượng quản trị pháp lý và hiệu quả thực thi pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Việc xây dựng Nghị quyết quán triệt các quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và thể chể hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, đặc biệt là Kết luận số 23-KL/TW; gắn với yêu cầu thực tiễn, phát huy vai trò của luật sư công trong giải quyết các vấn đề pháp lý của khu vực nhà nước; bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức bộ máy hiện nay.
Dự thảo Nghị quyết gồm 12 điều, quy định toàn diện về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Nghị quyết quy định nguyên tắc hoạt động, tiêu chuẩn, phạm vi công việc, quyền và nghĩa vụ, quy trình giải quyết công việc và chế độ, chính sách đối với luật sư công; thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương.
Luật sư công phải đáp ứng đồng thời tiêu chuẩn của cán bộ, công chức và tiêu chuẩn hành nghề luật sư; có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn. Phạm vi công việc bao gồm tư vấn, đại diện và tham gia tổ tụng trong các vụ việc trong nước và quốc tề; tư vấn pháp lý cho dự án phát triên; tham gia giải quyết khiếu nại, tổ cáo phức tạp; thực hiện các nhiệm vụ pháp lý khác trong khu vực nhà nước.
Dự thảo cũng quy định kết hợp giữa quyền, nghĩa vụ của luật sư và của cán bộ, công chức; đồng thời, có cơ chế đặc thù như miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp thực hiện đúng quy định, không vì tư lợi. Cùng với đó, cho phép cơ quan nhà nước chủ động sử dụng hoặc đề nghị điều động luật sư công; trường hợp cần thiết có thể thuê dịch vụ pháp lý bên ngoài theo cơ chể linh hoạt.
Luật sư công được bảo đảm tiền lương, hỗ trợ và bồi dưỡng tương xứng, tạo điều kiện thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Thời gian thí điểm được Chính phủ đề xuất từ ngày 1/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, kèm cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ việc đang thực hiện.
Tạo điều kiện "giữ chân" nhân lực chất lượng cao
Thẩm tra dự thảo Nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, cơ quan thẩm tra tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026 về Đề án “Nghiên cứu xây dựng chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay”.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận định, dự thảo Nghị quyết không có nội dung trái Hiến pháp, dù có một số nội dung khác với luật hiện hành hoặc chưa được luật hiện hành quy định; vì vậy, việc trình Quốc hội ban hành Nghị quyết thí điểm là phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hồ sơ dự thảo Nghị quyết được đánh giá là đầy đủ tài liệu, bảo đảm chất lượng và đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Đối với các nội dung cụ thể, cơ quan thẩm tra tán thành với phạm vi điều chỉnh, phạm vi thí điểm tại 8 bộ, 10 địa phương như quy định tại dự thảo Nghị quyết, bảo đảm thực hiện đúng Kết luận của Bộ Chính trị.
Về tiêu chuẩn luật sư công và phạm vi công việc của luật sư công, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng, các quy định đã bám sát Kết luận số 23-KL/TW, cơ bản có thể tán thành; đồng thời, đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định tại dự thảo Nghị quyết hoặc giao Chính phủ quy định cụ thể việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan theo vị trí việc làm và việc thực hiện nhiệm vụ của luật sư công, để vừa phát huy vai trò của luật sư công, vừa không ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý đội ngũ này.
Về thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư cho luật sư công, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành việc giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện như dự thảo Nghị quyết nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong giai đoạn thí điểm. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị nghiên cứu phân cấp thẩm quyền này đối với người làm luật sư công ở địa phương cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phù hợp chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Đối với quy trình giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước, đa số ý kiến trong cơ quan thẩm tra tán thành việc cho phép cơ quan thí điểm được lựa chọn, ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư trong một số trường hợp.
Tuy nhiên, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị bỏ quy định về hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt vì không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị quyết. Một số ý kiến còn cho rằng nếu cần thiết, Chính phủ có thể ban hành văn bản riêng để quy định về vấn đề này.
Về chế độ, chính sách đối với luật sư công, cơ quan thẩm tra cơ bản nhất trí với quy định về chế độ hỗ trợ hàng tháng và chế độ bồi dưỡng theo vụ việc, song đề nghị chỉ áp dụng đối với luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, không áp dụng với người làm việc tại doanh nghiệp nhà nước.
Cũng có ý kiến cho rằng, luật sư công thực hiện nhiệm vụ theo vụ việc nên không cần hỗ trợ hàng tháng mà chỉ nên hưởng phụ cấp theo vụ việc. Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị tiếp tục nghiên cứu, bổ sung chính sách để có thể thu hút, giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này.
Đa số ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhất trí thời gian thực hiện thí điểm quy định trong dự thảo Nghị quyết, vì đã bám sát Kết luận của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị thời gian thực hiện thí điểm đến hết ngày 31/12/2028; có ý kiến đề nghị cân nhắc kéo dài thời gian thí điểm lên 3 - 5 năm để có đầy đủ cơ sở đánh giá hiệu quả, tính khả thi trên thực tế.