Thượng đẳng tối linh mỹ từ
Những ai từng đến du lịch ở Nghệ An, chắc hẳn đều nghe câu "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng” để nói về 4 ngôi đền thiêng nổi tiếng vùng Nghệ - Tĩnh. Trong mạch nguồn tâm linh ấy, đền Bạch Mã – ngôi đền được xếp ở vị trí thứ ba – không chỉ nổi tiếng bởi sự linh ứng mà còn gắn với công lao to lớn của các bậc tiền nhân có công hộ quốc, an dân.
Đền Bạch Mã ở xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An.
Những ngày Tết Nguyên đán Bính Ngọ, từ sáng sớm, con đường dẫn vào đền Bạch Mã tấp nập người qua lại. Trong tiết trời se lạnh, bước chân vào đền, mỗi người như tìm được sự an yên trong tâm hồn. Người đến cầu an, người cầu tài, cầu lộc, người chỉ đơn giản là tìm về chốn linh thiêng để bình tâm, lắng lòng trong một khoảng thời gian.
Mùi hương trầm quyện trong làn khói mỏng bảng lảng, tiếng chuông, tiếng khấn hòa vào khoảng không yên bình, rộng lớn, tạo nên một không gian linh thiêng như hào khí ngàn xưa hoà quyện trong sinh khí đất trời vào Xuân. Mỗi người dân khi đến nơi đây lại thêm một lần được nghe kể về sự tích của đền, về cái tên Bạch Mã và niềm thương quý dành cho con ngựa của vị tướng anh hùng
Theo sử sách ghi lại và theo truyền thuyết dân gian, đền Bạch Mã được xây dựng từ thời nhà Lê để thờ tướng Phan Đà (thần Bạch Mã) - vị tướng tài giỏi đã có công lớn trong cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Minh ở thế kỷ XV. Tướng Phan Đà sinh vào những năm đầu của thế kỷ XV trong một gia đình sống bằng nghề chài lưới ven sông Lam, ở thôn Chí Linh, xã Võ Liệt.
Tướng Phan Đà mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được một người làm nghề rèn trong xã cưu mang. Tuổi trẻ, Phan Đà là cậu bé thông minh, tuấn tú, giỏi võ nghệ, cung tên nên nhân dân gọi là “trẻ kỳ đồng”. Khi có giặc ngoại xâm, Phan Đà đã tập hợp nghĩa quân ngày đêm luyện tập. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa, sau đó về Nghệ An xây dựng căn cứ chống giặc Minh. Tướng Phan Đà đã đem lực lượng của mình gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và cùng dân binh xã Võ Liệt tham gia nhiều trận chiến đấu tiêu diệt giặc ngoại xâm.
Phan Đà là vị tướng mưu lược dũng cảm “Xông vào trận mạc như xông vào chỗ không người” làm cho địch nhiều phen khiếp sợ. Trong một lần cải trang sang sông nắm tình hình của giặc, Phan Đà ghé vào buổi hát hội do dân làng tổ chức thì bị lộ. Một mình ông tả xung hữu đột với quân thù và bị chém trọng thương.
Biết chủ mình lâm nạn, con ngựa chiến trung thành lồng lộn, hý vang trời, phá vòng vây bơi qua sông trở về căn cứ và khi về đến nơi thì Phan Đà tắt thở. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, xét công lao to lớn của tướng Phan Đà đã sắc phong cho ông làm “Đô thiên đại đế Bạch Mã Thưởng đẳng phúc thần”, đồng thời giao cho quan sở tại xây dựng ngôi đền bề thế, tổ chức cúng tế hằng năm để tưởng nhớ ông.
Tượng Bạch Mã được đặt trang trọng, uy nghi trong đền
Truyền thuyết dân gian kể rằng, từ khi hy sinh, linh hồn dũng tướng Phan Đà đã nhiều lần linh ứng cứu giúp nhân dân qua khỏi thiên tai, dịch bệnh và phù hộ các triều vua, tướng lĩnh đánh thắng kẻ thù. Năm Quang Thuận thứ 6 (1465), vua Lê Thánh Tông trên đường đi chinh phục phương Nam đã đến thăm đền Bạch Mã và làm lễ kỳ đảo ở đây. Sau khi thắng trận trở về, nhà vua đã sai cấp thêm đồ tế phẩm và người thờ tự cho đền.
Tiếp đó, năm Cảnh Hưng thứ 3 (1770), Quận công Bùi Thế Đạt đem quân đánh giặc tại Trấn Ninh cũng đến đền làm lễ kỳ đảo, sau khi thắng lớn, ông đã tâu với vua gia phong cho đền là “Thượng đẳng tối linh mỹ từ”, nghĩa là ngôi đền linh thiêng nhất.
Cũng chính từ ngôi đền này đã ghi lại bao dấu ấn và sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ đấu tranh cách mạng của dân tộc. Trong cao trào Cách mạng 1930-1931, đền Bạch Mã là nơi tổ chức hoạt động bí mật của tổ chức Nông hội xã Võ Liệt. Năm 1945, nhân dân trong xã cũng tập trung tại đền trước khi tới Huyện đường lật đổ chính quyền thực dân phong kiến.
Người dân địa phương và du khách về đền Bạch Mã để cầu bình an, may mắn.
Đền Bạch Mã tọa lạc trên diện tích khoảng 5.000m2, thiết kế gồm Tam quan, Nghi Môn, Thượng điện, Trung điện, Hạ điện, Tả vu, Hữu vu. Kiến trúc đền độc đáo, bố cục hài hòa, được chạm khắc nhiều họa tiết tinh xảo. Hình ảnh ngựa, mây trời, hoa văn truyền thống được khắc họa khéo léo, thể hiện niềm tin vào sự bảo hộ của thần linh và khát vọng về cuộc sống hài hòa, thịnh vượng. Trong đền còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật, đồ tế khí quý hiếm. Xung quanh đền được bao bọc bởi các cây xanh cổ thụ, lâu đời, tạo nên không gian cổ kính, linh thiêng.
Sáng ngời trung nghĩa
Trải qua bao năm tháng, cứ đến ngày mùng một tết Nguyên đán và ngày mồng một âm lịch, ngày rằm hằng tháng, nhân dân quanh vùng lại về đền Bạch Mã dâng hương, ngắm cảnh, ôn lại những câu chuyện lịch sử và cầu nguyện cho quốc thái, dân an. Lễ hội đền Bạch Mã được tổ chức hằng năm vào ngày 9 và 10 tháng Hai âm lịch. Các lễ vật dâng lên đền mộc mạc, chứa đựng sự thành tâm, tin tưởng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” đã ăn sâu trong tâm thức của người dân.
Người dân khi về với đền Bạch Mã, không chỉ là lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân có công hộ quốc, an dân, mà còn thương quý hình ảnh Bạch Mã - con ngựa trắng trung thành, dũng mãnh, không quản hiểm nguy để lao vào vòng vây cứu chủ. Câu chuyện về Bạch Mã linh thiêng được truyền kể qua bao thế hệ, ở trong tâm thức của biết bao con người.
Cụ Lê Thị Hoài (75 tuổi), người dân xã Kim Bảng xúc động chia sẻ, từ khi còn nhỏ cụ đã được theo cha mẹ đi lễ ở đền Bạch Mã và hình ảnh của đền ở trong tâm trí cụ suốt 70 năm qua. “Trải qua bao thăng trầm, biến động, người dân nơi đây luôn tin rằng, hình ảnh Bạch Mã ở đền là một điềm lành, dẫn đường, bảo vệ dân làng khỏi thiên tai, giặc giã; có Bạch Mã đứng đó, những thiên tai lớn cũng sẽ giảm đi. Nơi đây là điểm tựa tinh thần, là nơi gieo niềm tin, khát vọng vươn lên cho bao thế hệ. Chính vì vậy, hằng tháng, hằng năm, nhân dân luôn dâng lễ tạ ơn dũng tướng Phan Đà và linh vật Bạch Mã” – cụ Hoài nói.
Lễ rước thần trong Lễ hội đền Bạch Mã.
Câu chuyện về Bạch Mã sáng ngời đạo nghĩa trung thành, son sắt, tận hiến – những giá trị bền bỉ đã theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Từ những câu chuyện được truyền kể qua bao thế hệ ấy, đền Bạch Mã trở thành dấu tích quý giá, nơi nuôi dưỡng tâm hồn, hun đúc đạo lý cho các thế hệ nối tiếp nhau.
Ông Nguyễn Hải Dương – Bí thư Đảng uỷ xã Kim Bảng chia sẻ, xã luôn quan tâm, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ và qua những câu chuyện, huyền tích được truyền lại về đền Bạch Mã, người trẻ hiểu hơn về lịch sử quê hương, về lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân và có ý thức gìn giữ giá trị văn hóa của dân tộc. Chính sự giữ gìn, tiếp nối truyền thống đã đưa đền Bạch Mã hiện diện trong đời sống tinh thần của người dân địa phương và du khách muôn phương.
Trong ánh chiều cuối năm, khi dòng người thưa dần, đền Bạch Mã trở lại với vẻ trầm mặc vốn có. Khói hương vẫn tỏa, tượng Bạch Mã vẫn bền bỉ, lặng lẽ hiện diện như người canh giữ thời gian, chứng kiến bao đổi thay của vùng đất Kim Bảng. Những bước chân rời đền mang theo niềm tin về một năm mới được chỉ đường dẫn lối hanh thông, may mắn, mã đáo thành công.
Hiện nay, đền Bạch Mã trở thành điểm du lịch văn hóa tâm linh quen thuộc, gắn với tour du lịch lịch sử văn hóa, văn hóa tâm linh của tỉnh Nghệ An. Lễ hội đền Bạch Mã hằng năm thu hút hàng vạn người tham gia, trở thành nhu cầu sinh hoạt văn hóa truyền thống không thể thiếu của nhân dân.