Đóng

Điện đi trước một bước đáp ứng tăng trưởng khu vực phía Nam

Điện thương phẩm phía Nam tăng 7,13% trong 9 tháng năm 2026, đặt ra yêu cầu hạ tầng điện phải đi trước, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.

Điện phải đi trước một bước

Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu bảo đảm năng lượng, đặc biệt là điện nhằm tạo nền tảng hạ tầng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên. Tinh thần đó tiếp tục được cụ thể hóa tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030. Trung ương xác định quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời yêu cầu tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, huy động, khơi thông và giải phóng nhanh các nguồn lực cho phát triển.

Công trình TBA 220kV Phú Quốc vừa hoàn thành đưa vào vận hành từ tháng 8/2026.

Trong bài toán đó, năng lượng là một trong những hạ tầng phải đi trước, Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt yêu cầu phát triển hệ thống năng lượng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Từ định hướng của Trung ương, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ liên tục đưa yêu cầu bảo đảm điện vào nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong điều hành kinh tế. Tại Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 18/1/2026, Thủ tướng yêu cầu tập trung thực hiện nhiệm vụ cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030; huy động các nguồn lực, thúc đẩy và khẩn trương hoàn thành các dự án nguồn điện, truyền tải điện, không để công trình ách tắc, chậm tiến độ do xử lý thủ tục hành chính.

Đến Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà, yêu cầu này càng được đặt ra trực diện: bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định, liên tục cho sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng kinh tế và an ninh năng lượng quốc gia.

Những mục tiêu ở tầm quốc gia đang tạo sức ép rất cụ thể lên ngành điện nhằm đảm bảo tiến độ các dự án phát triển nguồn, lưới, khai thác và vận hành tối ưu hiệu quả hạ tầng hiện có cũng như linh hoạt phương thức vận hành hệ thống điện. Bởi những khu công nghiệp mới, sân bay, cảng biển, trung tâm logistics, đô thị, trung tâm dữ liệu, trạm sạc, các dự án công nghệ cao và những cực tăng trưởng mới sẽ đồng thời xuất hiện, kéo theo nhu cầu điện có thể tăng nhanh hơn nhiều so với trước.

Áp lực ấy càng hiện hữu tại khu vực phía Nam - nơi tập trung nhiều trung tâm công nghiệp, khu kinh tế và các địa bàn đang thu hút mạnh dòng vốn đầu tư. Chỉ trong 9 tháng năm 2026, công suất cực đại trên địa bàn EVNSPC quản lý đạt 11.115 MW, tăng 6,70% so với cùng kỳ; điện thương phẩm đạt 55,892 tỷ kWh, tăng 7,13%... Những con số đó cho thấy bài toán của ngành điện phía Nam không còn chỉ là đáp ứng nhu cầu sử dụng điện hiện tại, khi nền kinh tế hướng tới tốc độ tăng trưởng hai con số, hệ thống điện cũng phải chuẩn bị cho những phụ tải chưa xuất hiện, tạo đủ dư địa cho nhà máy mở rộng sản xuất, khu công nghiệp đón thêm nhà đầu tư và những động lực tăng trưởng mới hình thành. Nói cách khác, điện phải đi trước một bước để không trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng.

Chất lượng điện ổn định là “mạch máu” của nhà máy

Có mặt tại Khu công nghiệp Đặng Huỳnh (tỉnh Tây Ninh) vào những ngày cuối tháng 9/2026, nhóm phóng viên chúng tôi có dịp gặp gỡ nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, lắng nghe những chia sẻ về tín hiệu tích cực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đằng sau những kết quả ấy là sự đồng hành của chính quyền địa phương và ngành điện trong tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm hạ tầng và nguồn điện ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất cũng như kế hoạch mở rộng quy mô đầu tư của doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Văn Bảnh, Phó Giám đốc Công ty CP Khai thác và quản lý Khu công nghiệp Đặng Huỳnh cho biết, khu công nghiệp thời gian qua nhận được sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của ngành điện trong quản lý, vận hành và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.

Hệ thống điện trung thế được đầu tư đến từng khu vực nhà xưởng, các trạm biến áp được tính toán phù hợp với nhu cầu thực tế nhằm hạn chế quá tải và sự cố. Khi nhu cầu điện của doanh nghiệp tăng bình quân trên 10% mỗi năm, Điện lực Cần Giuộc tiếp tục đầu tư, bổ sung đường dây, nâng khả năng cấp điện cho khu công nghiệp.

“Cùng với quá trình mở rộng sản xuất, lượng điện tiêu thụ ngày càng tăng, ngành điện đã kịp thời đầu tư thêm đường dây, nâng khả năng cung cấp, hạn chế quá tải và bảo đảm điện ổn định cho doanh nghiệp”, ông Bảnh cho biết.

Khá bất ngờ khi đón những nhà báo từ phía Bắc vào thăm đúng thời điểm doanh nghiệp đang cao điểm sản xuất, ông Fukumori Toyoki, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Yumoto Vietnam (Khu công nghiệp Tân Kim, xã Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh), vẫn hồ hởi dành thời gian chia sẻ về tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thời gian qua.

Ông Fukumori Toyoki cho biết, nhà máy sử dụng nhiều máy CNC, phần lớn sản phẩm làm ra để xuất khẩu, trong đó khoảng 90% sang Nhật Bản, 10% còn lại phục vụ một số thị trường khác như châu Âu, Mỹ, Đức. Bởi vậy, yêu cầu đối với điện không chỉ là có đủ công suất, mà quan trọng hơn phải ổn định và liên tục.

“Nếu đột ngột mất điện, quá trình sản xuất sẽ bị ngưng trệ, thậm chí có thể ảnh hưởng, gây hư hỏng máy móc. Vì vậy, chất lượng điện ổn định có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp”, ông Fukumori Toyoki chia sẻ.

Điều mà vị lãnh đạo doanh nghiệp Nhật Bản cảm nhận rõ nhất là sự thay đổi trong những năm gần đây đó là hạ tầng lưới điện đã được đầu tư mới, nâng cấp, cải tạo đáp ứng nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp hoạt động tại Khu công nghiệp Tân Kim luôn yên tâm về chất lượng điện ổn định do có 2 nguồn điện lưới quốc gia.

“Một trong những yếu tố quan trọng là khu công nghiệp hiện có hai nguồn điện lưới, tạo khả năng hỗ trợ, chuyển đổi nguồn khi cần thiết. Khi một nguồn điện gặp vấn đề hoặc cần sửa chữa, có thể chuyển sang nguồn điện còn lại. Thời gian chuyển đổi nguồn chỉ khoảng 1-2 phút, vì vậy hoạt động sản xuất cơ bản không bị gián đoạn kéo dài”, ông Fukumori Toyoki thông tin.

Theo doanh nghiệp, việc duy trì được hai nguồn cấp điện có ý nghĩa rất lớn đối với các nhà máy sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ cao. Nguồn điện không chỉ cần đáp ứng đủ công suất mà quan trọng hơn phải ổn định, liên tục, bởi mỗi lần mất điện đột ngột đều có nguy cơ ảnh hưởng đến dây chuyền, tiến độ sản xuất và thiết bị.

Là nhà đầu tư thứ cấp Khu công nghiệp Tân Kim (xã Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh), ông Trần Duy Vũ, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần KIZUNA JV cho biết, hệ thống của doanh nghiệp hiện có 5 dự án với khoảng 500.000 m² nhà xưởng, phục vụ hơn 150 khách thuê đến từ 17 quốc gia; tỷ lệ lấp đầy khoảng 97%. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, bên cạnh vị trí, logistics và nhà xưởng, tính ổn định của hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là nguồn điện, luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu.

Đặc biệt với doanh nghiệp chế biến thực phẩm, hệ thống kho mát, kho lạnh phải hoạt động thường xuyên. Điện gián đoạn không chỉ ảnh hưởng dây chuyền mà có thể tác động tới chất lượng hàng hóa và khả năng giao hàng. “Đối với các doanh nghiệp sản xuất tại đây, nguồn điện ổn định chính là một trong những yếu tố quan trọng, có thể ví như ‘mạch máu’ đối với hoạt động sản xuất và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp”, ông Vũ nhấn mạnh.

Cách ví von ấy cho thấy điện đã vượt khỏi ý nghĩa của một dịch vụ hạ tầng thông thường. Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư, một hệ thống điện đủ công suất, ổn định và có dự phòng trở thành một phần của năng lực cạnh tranh địa phương. Nhà đầu tư có thể xây nhà máy trong vài tháng, nhưng sẽ khó đưa ra quyết định đầu tư nếu phía sau hàng triệu USD máy móc là một nguồn điện thiếu ổn định.

Đó cũng là lý do câu chuyện bảo đảm điện tại phía Nam hiện không còn được đặt trong bài toán “đủ điện hôm nay”, mà phải tính tới nhu cầu của những nhà máy, khu công nghiệp, trung tâm dữ liệu, đô thị và hạ tầng giao thông sẽ xuất hiện sau vài năm nữa.

Hạ tầng điện và bài toán tăng trưởng hai con số

Tại Trạm biến áp 110kV Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh, sự thay đổi của hệ thống điện có thể nhìn thấy từ chính những thiết bị đang vận hành. Ông Nguyễn Thành Nhân, Tổ trưởng Tổ thao tác lưu động Cần Đước, Công ty Điện lực Tây Ninh cho biết, đơn vị hiện quản lý 5 trạm biến áp 110kV, cấp điện cho Cần Đước, Cần Giuộc và các khu công nghiệp Tân Tập, Long Hậu, Phước Lý cùng khu vực lân cận.

Ông Nhân chia sẻ, trước đây, trạm 110kV Cần Giuộc chỉ có một máy biến áp T1 công suất 63 MVA. Có thời điểm phụ tải tăng cao, mức mang tải của máy vượt 80%. Trong khi đó, khu vực này tập trung nhiều phụ tải công nghiệp, yêu cầu cấp điện liên tục ngày càng cao.

Khi máy biến áp T2 được lắp đặt và đưa vào vận hành, áp lực được san sẻ đã góp phần nâng cao năng lực truyền tải cho các khu, cụm công nghiệp lân cận, từng bước đáp ứng tiêu chí N-1, nghĩa là khi một phần tử, hay TBA trong khu vực lân cận gặp sự cố, hệ thống vẫn có khả năng duy trì cấp điện.

Chia sẻ thêm với phóng viên Báo Công Thương, ông Huỳnh Anh Dũng, Trưởng Điện lực Cần Giuộc, Công ty Điện lực Tây Ninh cho biết, ngành điện không thể chờ đến khi phụ tải tăng mới đầu tư. Đơn vị phải thường xuyên làm việc với khách hàng công nghiệp để nắm nhu cầu hiện tại, kế hoạch mở rộng nhà máy, từ đó xây dựng phương án cấp điện và kiến nghị đầu tư nguồn, lưới phù hợp.

“Song song với nâng công suất trạm 110kV, ngành điện đã triển khai hoàn thiện lưới 22kV nhằm tăng liên kết giữa các tuyến và bố trí thiết bị đóng cắt, điều khiển từ xa. Quan điểm vận hành là không để hệ thống thường xuyên ở trạng thái đầy tải mà phải duy trì dư địa nhất định, khoảng 50-70%, nhằm có khả năng chuyển tải khi sự cố hoặc bảo trì”, ông Dũng nhấn mạnh.

Theo ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), 9 tháng năm 2026, công suất cực đại trên địa bàn EVNSPC quản lý đạt 11.115 MW, tăng 6,70% so với cùng kỳ; điện thương phẩm đạt 55,892 tỷ kWh, tăng 7,13%. Toàn bộ 8 công ty điện lực đều có mức tăng trưởng điện thương phẩm cao, trong đó Vĩnh Long tăng 9,65%, Tây Ninh 9,34%, Lâm Đồng 8,73%...

Cơ cấu tiêu thụ điện cũng phản ánh khá rõ sự chuyển động của nền kinh tế phía Nam, cụ thể công nghiệp - xây dựng chiếm hơn 52% điện thương phẩm trong 8 tháng đầu năm; thương nghiệp, nhà hàng, khách sạn tăng trên 12% so với cùng kỳ.

Điện vì thế vừa là đầu vào của tăng trưởng, vừa là chỉ số phản ánh sức nóng của nền kinh tế. Để bảo đảm điện cho nhu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân, chỉ trong 8 tháng năm 2026, EVNSPC đã khởi công 45 công trình và đóng điện 64 công trình lưới điện 110-220kV. Nhiều dự án trực tiếp tăng khả năng cấp điện cho các khu công nghiệp, khu vực phụ tải cao tại Long An, Đồng Nai, Vĩnh Long, Lâm Đồng và các địa bàn kinh tế trọng điểm.

Ông Bùi Quốc Hoan cho biết, giai đoạn 2021-2025, EVNSPC đã dành hơn 57.000 tỷ đồng đầu tư hệ thống lưới điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Bước sang giai đoạn 2026-2030, theo kịch bản tăng trưởng cao, Tổng công ty dự kiến cần đầu tư khoảng 477 trạm biến áp 110kV, đồng thời đề xuất EVN đầu tư thêm một số trạm 220 kV và tiếp tục củng cố lưới trung, hạ áp.

Công nhân kiểm tra, soi phát nhiệt thiết bị tại TBA 110kV Cần Giuộc.

“Điều đó cho thấy nhu cầu phụ tải đang tăng nhanh chóng, một nhà máy có thể quyết định đầu tư khá nhanh, một khu công nghiệp có thể tăng tỷ lệ lấp đầy trong vài năm, trung tâm dữ liệu, trạm sạc, khu đô thị hay tổ hợp du lịch quy mô lớn có thể khiến nhu cầu công suất tại một địa bàn thay đổi mạnh trong thời gian ngắn. Trong khi đó, một dự án điện phải trải qua các bước, quy trình quy hoạch, chấp thuận đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, xây dựng rồi nghiệm thu là khoảng thời gian không hề ngắn và khoảng cách về thời gian ấy chính là một trong những thách thức lớn nhất của ngành điện”, ông Hoan nhận xét.

Không để “độ trễ” hạ tầng điện thành điểm nghẽn tăng trưởng

Một ví dụ điển hình là sân bay Long Thành, không chờ sân bay vận hành mới chuẩn bị nguồn cấp, EVNSPC đã đầu tư trạm biến áp 110 kV Sân bay Long Thành và công trình đã hoàn thành đóng điện.

Theo ông Hoan, một công trình hạ tầng quy mô quốc gia khi đi vào khai thác sẽ kéo theo logistics, thương mại, dịch vụ, đô thị và những khu công nghiệp mới. Vì vậy, cùng với nguồn điện trực tiếp cho sân bay, ngành điện đã làm việc với chính quyền địa phương, các chủ đầu tư khu công nghiệp để chuẩn bị đường dây, trạm 110kV cho những phụ tải sẽ hình thành xung quanh.

Ở những vùng kinh tế biển, câu chuyện cũng tương tự, điện không chỉ phục vụ khu công nghiệp mà còn phải theo những vùng nuôi trồng thủy sản, nhà máy chế biến, cảng biển, du lịch và đô thị ven biển như Cà Mau, Bạc Liêu, An Giang... nhu cầu điện ngày càng lớn và phải được tính vào bài toán đầu tư hệ thống ngay từ quy hoạch.

Để chủ động hơn, EVNSPC đang cập nhật các kịch bản tăng trưởng phụ tải theo từng tỉnh, ngành kinh tế và khách hàng lớn; duy trì điều hành cung cấp điện theo tháng, quý và rà soát hằng tuần. Theo EVNSPC, hiện có gần 6.000 khách hàng lớn đã ký thỏa thuận điều chỉnh phụ tải, điều này đã tạo thêm khả năng hỗ trợ hệ thống khi nguồn hoặc lưới gặp bất lợi.

Theo ông Bùi Quốc Hoan, với sự đồng hành của doanh nghiệp trong điều chỉnh và dịch chuyển phụ tải, tiết kiệm điện, lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, chỉ riêng 8 tháng năm 2026 sản lượng điện tiết kiệm trên địa bàn EVNSPC đạt hơn 3,248 tỷ kWh, tương đương 6,53% điện thương phẩm.

Như vậy, một hệ thống điện phục vụ nền kinh tế tăng trưởng cao không thể chỉ liên tục bổ sung đường dây và trạm biến áp. Nó còn phải trở thành hệ thống thông minh hơn, dự báo tốt hơn và sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, lãnh đạo EVNSPC cho biết, trong cuộc chạy đua để điện đi trước tăng trưởng vẫn còn những “nút thắt” đã trở thành quen thuộc.

Theo EVNSPC, khó khăn lớn hiện nay là mặt bằng và thủ tục đầu tư, có nơi chi phí bồi thường hành lang tuyến cao, có dự án vướng chấp thuận nhà đầu tư; trong khi sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch điện và kế hoạch sử dụng đất là một trong những nguyên nhân chính khiến công tác chuẩn bị dự án bị kéo dài.

Hoạt động sản xuất tại Công ty TNHH MTV Yumoto Vietnam, Khu công nghiệp Tân Kim mở rộng, xã Cần Giuộc,  tỉnh Tây Ninh.

Lãnh đạo EVNSPC chia sẻ, đây là bài toán không thể chỉ giao cho ngành điện, bởi muốn một trạm biến áp đi vào vận hành đúng lúc khu công nghiệp cần điện, quy hoạch phải đi trước, đất phải có, mặt bằng phải được bàn giao và thủ tục đầu tư phải được xử lý tương ứng với tốc độ phát triển của phụ tải. Nếu một nhà máy có thể hình thành trong 12 tháng nhưng đường dây mất vài năm để hoàn tất thủ tục và giải phóng mặt bằng, “độ trễ” của hạ tầng sẽ trở thành điểm nghẽn tăng trưởng.

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số đang đặt ngành điện trước một yêu cầu không chỉ bảo đảm đủ điện cho những phụ tải đang hiện hữu, hệ thống phải tạo được dư địa cho những phụ tải chưa xuất hiện. Nói cách khác, khi một khu công nghiệp mới bắt đầu đón nhà đầu tư, khi sân bay Long Thành tạo ra những cực tăng trưởng mới, khi kinh tế biển mở rộng, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao tìm địa điểm đầu tư, thì đường dây, trạm biến áp và phương án vận hành phải được chuẩn bị từ trước.

Thu Hường - Đình Dũng