Đóng

Điện mặt trời Việt Nam - Kỳ 2: Dấu ấn trên bản đồ điện mặt trời thế giới

Chỉ trong vài năm, Việt Nam đã đi từ vị trí gần như không có tên trên bản đồ điện mặt trời thế giới trở thành một trong những thị trường phát triển nhanh nhất khu vực.

Để hiểu vị thế của Việt Nam hôm nay, cần nhìn lại điểm xuất phát cách đây chưa đầy một thập kỷ. Trước năm 2017, điện mặt trời trong nước gần như chỉ dừng ở các dự án thí điểm quy mô nhỏ, tổng công suất chỉ vài megawatt. Khi chưa có cơ chế giá mua điện (FIT) và khung pháp lý đủ rõ ràng, nhà đầu tư thiếu cơ sở tính toán hiệu quả, dòng vốn vì thế đứng ngoài cuộc chơi. Trên bản đồ năng lượng tái tạo của khu vực thời điểm đó, Việt Nam gần như là một khoảng trống.

Khoảng trống ấy không phải vì thiếu chủ trương, bởi ngay từ đầu năm 2020, Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp lên khoảng 15 - 20% vào năm 2030 và 25 - 30% vào năm 2045. Đồng thời, Nghị quyết xác định quan điểm ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để, hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới và năng lượng sạch nhằm bảo đảm an ninh năng lượng gắn với phát triển bền vững. Đường lối đã có, điều còn thiếu là một cơ chế đủ cụ thể để biến đường lối thành dòng vốn.

Bước ngoặt thực sự xuất hiện khi Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ Về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam có hiệu lực từ tháng 6/2017. Quyết định thiết lập cơ chế giá FIT 9,35 UScents/kWh (tương đương khoảng 2.086 đồng/kWh tại thời điểm ban hành, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) và quy định EVN hoặc đơn vị thành viên được ủy quyền có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện từ các dự án vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019 trong thời hạn 20 năm. Cơ chế giá rõ ràng, đầu ra được bảo đảm cùng thời hạn áp dụng cụ thể đã nhanh chóng củng cố niềm tin của nhà đầu tư, mở đầu làn sóng phát triển điện mặt trời trên phạm vi cả nước.

Quyết tâm chính trị phía sau con số đó lớn hơn nhiều so với vẻ ngoài của một quyết định kỹ thuật. Ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), nhắc lại tại một toạ đàm do Báo Công Thương tổ chức: "Vào thời điểm năm 2017, khi cơ chế FiT đầu tiên được ban hành, giá bán lẻ điện bình quân của Việt Nam mới ở mức 1.732 đồng/kWh. Thế nhưng, khi đó chúng ta đã sẵn sàng mua điện mặt trời với mức giá 9,35 US cent/kWh, tương đương hơn 2.000 đồng/kWh. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị khi ấy rất lớn". Nhà nước chấp nhận mua điện cao hơn cả giá bán lẻ để thúc đẩy các dự án điện mặt trời và kết quả "đường cong" dựng đứng.

Làn sóng thứ hai xuất hiện cùng Quyết định số 13/2020/QĐ -TTg ngày 6/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Quyết định áp dụng cơ chế giá FIT cho các dự án đáp ứng điều kiện vận hành trước ngày 31/12/2020, với ba mức giá theo loại hình: điện mặt trời mặt đất 7,09 UScents/kWh, điện mặt trời nổi 7,69 UScents/kWh và điện mặt trời mái nhà 8,38 UScents/kWh (tương đương 1.943 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế GTGT). Mức giá ưu đãi cùng thời hạn kết thúc cơ chế FIT vào cuối năm 2020 đã thúc đẩy một làn sóng đầu tư mạnh mẽ, đặc biệt đối với điện mặt trời mái nhà tại các nhà xưởng, trang trại và hộ gia đình trên cả nước.

Kết quả của hai làn sóng nối nhau là một con số khó tin, theo số liệu được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) công bố năm 2021, đến cuối năm 2020, tổng công suất điện mặt trời toàn quốc đạt khoảng 16.500 MW, trong đó riêng điện mặt trời mái nhà vượt 100.000 hệ thống với gần 9.300 MWp. Mức độ bùng nổ của thị trường được thể hiện rõ nhất trong những ngày cuối cùng của cơ chế FIT2. Chỉ trong ba ngày từ 29 đến 31/12/2020, hơn 3.000 MW công suất điện mặt trời mái nhà đã được đấu nối vào hệ thống để kịp hưởng mức giá ưu đãi trước thời điểm chính sách hết hiệu lực. Đó là minh chứng rõ nét cho sức mạnh của chính sách, từ vài megawatt mỗi năm trước 2017 đến hàng nghìn megawatt được đưa vào vận hành trong vài ngày cuối năm 2020, đó chính là biên độ của một cú nhảy chưa từng có trong lịch sử phát triển điện mặt trời Việt Nam.

Quy mô dòng vốn đổ vào điện mặt trời trong giai đoạn này cũng thuộc loại hiếm thấy. Theo Báo cáo dòng tài chính ngành điện Việt Nam do Climate Policy Initiative công bố tháng 11/2025, giai đoạn 2017 - 2022, điện mặt trời thu hút khoảng 27,5 tỷ USD, chiếm tới 66,5% tổng vốn đầu tư của toàn ngành điện. Con số này cho thấy sức hút đặc biệt của lĩnh vực điện mặt trời, đồng thời phản ánh tác động mạnh mẽ của cơ chế giá mua điện ưu đãi trong việc kích hoạt dòng vốn tư nhân. Chỉ trong vài năm, một lĩnh vực gần như chưa hiện diện trên thị trường đã trở thành điểm đến của phần lớn nguồn vốn đầu tư năng lượng tại Việt Nam.

Đặt đường cong tăng trưởng của Việt Nam trong bức tranh toàn cầu càng thấy rõ tính chất đặc biệt của giai đoạn bùng nổ này. Theo báo cáo Snapshot of Global PV Markets 2025 của Chương trình Hệ thống điện quang điện thuộc Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA PVPS), đến cuối năm 2024, công suất điện mặt trời toàn cầu đã đạt khoảng 2.247 GW, gần gấp đôi so với năm 2022.

Tuy nhiên, trong khi phần lớn các quốc gia mở rộng điện mặt trời theo một lộ trình tăng trưởng tương đối ổn định, Việt Nam lại đi theo một quỹ đạo khác thường: tăng vọt trong thời gian rất ngắn, gần như theo phương thẳng đứng, trước khi chững lại. Chính hình thái tăng trưởng hiếm gặp đó đã khiến Việt Nam nhiều lần được các tổ chức quốc tế nhắc đến như một trường hợp điển hình về sự bùng nổ của năng lượng tái tạo dưới tác động của chính sách. Trong Báo cáo Triển vọng năng lượng Đông Nam Á 2022 của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), mô tả Việt Nam trải qua một đợt bùng nổ điện mặt trời đáng kinh ngạc, công suất tăng từ gần như bằng không lên hơn 16 GW chỉ trong hai năm, và trở thành thị trường điện mặt trời lớn nhất Đông Nam Á, lắp thêm trong giai đoạn 2019 đến 2020 nhiều hơn bất kỳ nước ASEAN nào khác.

Trên bản đồ điện mặt trời Đông Nam Á, Việt Nam đang nổi lên như một điểm sáng. Tính cả điện mặt trời mái nhà và điện mặt trời quy mô lớn, tổng công suất lắp đặt đã vượt xa ngưỡng mà nhiều quốc gia trong khu vực vẫn chưa đạt được. Ông Trịnh Quốc Vũ khẳng định vị thế đó: "Nếu nhìn vào thực tế hiện nay, tổng công suất điện mặt trời của Việt Nam, bao gồm điện mặt trời mái nhà và điện mặt trời quy mô lớn, đã đạt hơn 19.000 MW. Với quy mô đó, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về phát triển điện mặt trời". Hơn 19.000 MW là con số định vị nước ta trong nhóm dẫn đầu khu vực và là một trong những quy mô điện mặt trời lớn nhất châu Á ngoài Trung Quốc và Ấn Độ. Đặt cạnh các nước láng giềng càng thấy rõ khoảng cách.

Theo pv magazine, Thái Lan đi theo hướng thận trọng tới mức kìm hãm: hạn ngạch mái nhà dân dụng chỉ 90 MW đã đầy ngay trong năm 2024, và tính tới cuối tháng 9/2024 tổng công suất mái nhà lắp mới mới đạt 2.626 MW.  Theo số liệu của Cơ quan Phát triển năng lượng bền vững Malaysia (SEDA Malaysia) công bố năm 2024, Malaysia phát triển điện mặt trời mái nhà theo lộ trình bài bản với ba giai đoạn của cơ chế Net Energy Metering (NEM). Tuy nhiên, tổng hạn ngạch tích lũy của toàn bộ chương trình NEM từ năm 2016 đến năm 2025 cũng chỉ ở mức 3.000 MWac, gồm 500 MW của NEM 1.0 - 2.0 và 2.500 MW của NEM 3.0.

Trong khi đó, theo báo cáo thị trường điện mặt trời của Energy Trend năm 2024, Indonesia đặt mục tiêu thêm 5,75 GW mái nhà cho cả giai đoạn 2024 đến 2028. Còn theo công ty nghiên cứu, tư vấn và dự báo năng lượng độc lập của Pháp (Enerdata), Philippines lựa chọn cách tiếp cận thông qua các vòng đấu thầu năng lượng xanh. Enerdata cho biết vòng GEA-4 tháng 11/2025 đã trao quyền phát triển tới 10,2 GW công suất. Dù vậy, phần lớn vẫn là công suất trên giấy, cần thêm thời gian để chuyển thành các dự án vận hành thương mại.

So sánh đó cho thấy, về quy mô đã lắp đặt và vận hành, không nước nào trong khu vực bắt kịp Việt Nam ở thời điểm này. Nhưng các nước đi sau đang chọn con đường khác hẳn, dùng hạn ngạch và đấu thầu để kiểm soát tốc độ thay vì một mức giá cố định mở cho mọi dự án. Việt Nam đang dẫn trước về quy mô, nhưng xu hướng chính sách của khu vực lại đang dịch chuyển sang một mô hình phát triển có kiểm soát và gắn chặt hơn với khả năng hấp thụ của hệ thống điện.

Vị thế của Việt Nam còn được phản ánh ở quy mô hệ thống điện quốc gia, số liệu của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (VIOIT) cho thấy, đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện của cả nước đã đạt khoảng 87.655 MW, không chỉ dẫn đầu ASEAN mà còn đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có hệ thống điện lớn nhất thế giới. Đây là nền tảng quan trọng để hấp thụ và tích hợp ngày càng nhiều nguồn năng lượng tái tạo trong những năm tới và điện mặt trời là một trong những động lực chính tạo nên quy mô đó.

Trong các báo cáo về tiềm năng năng lượng tái tạo Việt Nam, Ngân hàng thế giới từ sớm đã xếp nước ta vào nhóm có tiềm năng kỹ thuật điện mặt trời cao nhất Đông Nam Á và nhận định Việt Nam có thể trở thành nước dẫn đầu khu vực về điện mặt trời và điện gió nếu hiện đại hóa được lưới truyền tải và phân phối. Vế "nếu" ấy chính là nội dung của những khoản phải trả phía sau.

Theo ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO): "Hiện nay, tổng công suất lắp đặt của hệ thống điện mặt trời vào khoảng 19.000 - 20.000 MW. Nếu tính toàn bộ các nguồn năng lượng tái tạo, gồm điện mặt trời mái nhà, điện mặt trời trang trại, điện gió và một số nguồn khác, tổng công suất lắp đặt của toàn hệ thống có thể lên tới khoảng 24.000 MW". Điều đó đồng nghĩa với việc gần một phần tư công suất nguồn điện của hệ thống hiện nay đến từ các nguồn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Đây là tỷ lệ tiệm cận mức của nhiều quốc gia phát triển đã theo đuổi chuyển dịch năng lượng trong nhiều năm. Chính quy mô ngày càng lớn của năng lượng tái tạo vừa mang lại lợi ích về giảm phát thải, đa dạng hóa nguồn cung, vừa đặt ra những thách thức mới về vận hành hệ thống, điều độ công suất và đầu tư hạ tầng lưới điện. Đó cũng là mặt được và mặt phải trả của quá trình chuyển dịch năng lượng mà Việt Nam đang trải qua.

Mặt tích cực của điện mặt trời là không thể phủ nhận. Nguồn điện này được bổ sung với tốc độ rất nhanh trong giai đoạn nhiều dự án nhiệt điện chậm tiến độ, góp phần quan trọng bảo đảm cung ứng điện. Đặc biệt sau làn sóng đầu tư giai đoạn 2019 - 2021, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Nam Trung Bộ và miền Nam, điện mặt trời đã trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống điện quốc gia. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2024, sản lượng điện mặt trời được huy động trên toàn hệ thống đạt khoảng 13,91 tỷ kWh, chiếm gần 9,2% tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu.

Sự phát triển bùng nổ của điện mặt trời cũng mở ra một thay đổi lớn về mô hình đầu tư. Nếu trước đây khu vực tư nhân gần như đứng ngoài lĩnh vực phát điện, thì chỉ trong vài năm, các doanh nghiệp đã mạnh dạn rót hàng tỷ USD vào các dự án năng lượng tái tạo. Điều đó cho thấy khi cơ chế chính sách đủ rõ ràng, minh bạch và tạo được niềm tin cho nhà đầu tư, nguồn lực xã hội hoàn toàn có thể đảm nhận phần lớn nhu cầu vốn phát triển nguồn điện, qua đó giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.

Quan trọng hơn, điện mặt trời đã tạo nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa các cam kết chuyển dịch năng lượng và mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, đồng thời từng bước nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống điện quốc gia. Theo phân tích của Zerocarbon Analytics (2026), việc gia tăng nhanh công suất điện mặt trời giúp Việt Nam tiết kiệm khoảng 594 triệu USD chi phí nhập khẩu than và khí đốt mỗi năm trong bối cảnh giá nhiên liệu thế giới biến động mạnh. Đây không chỉ là lợi ích kinh tế trực tiếp mà còn góp phần củng cố an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thần tốc luôn đi kèm những hệ quả nhất định và những hệ quả đó được phản ánh rõ qua các số liệu vận hành hệ thống điện.

Trước hết, là tình trạng phát triển mất cân đối theo không gian. Cơ chế giá FIT được áp dụng thống nhất trên toàn quốc, trong khi chưa gắn chặt với khả năng tiếp nhận của lưới điện và quy hoạch phát triển từng vùng. Điều này đã tạo động lực để dòng vốn tập trung vào những địa phương có bức xạ cao, quỹ đất thuận lợi và thủ tục đầu tư thông thoáng như Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa), Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng) và khu vực Nam Trung Bộ.

Hệ quả là nguồn điện phát triển nhanh hơn hạ tầng truyền tải. Hàng loạt dự án điện mặt trời được đưa vào vận hành trong thời gian ngắn, trong khi lưới điện 110kV và 220kV tại nhiều khu vực chưa được đầu tư đồng bộ, nói cách khác, nguồn điện đã chạy trước lưới điện. Sự biến động công suất từ các nguồn điện gió, điện mặt trời gây quá tải cục bộ tại một số khu vực, dẫn tới tình trạng phải tiết giảm công suất, trong khi năng lực lưu trữ và nguồn điện dự phòng còn hạn chế.

Theo nhận định của Tổ chức nghiên cứu chính sách năng lượng toàn cầu Ember, Việt Nam là một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về phát triển điện mặt trời, nhưng đang đối mặt với điểm nghẽn lớn về hạ tầng lưới điện. Năng lực truyền tải liên vùng chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn điện tái tạo, khiến tình trạng cắt giảm công suất điện mặt trời và điện gió ngày càng gia tăng tại một số thời điểm.

Thứ hai, là cắt giảm công suất, hệ quả trực tiếp của việc dồn cục, tờ PetroTimes ngày 31/5/2021 đã đăng tải một bài viết dựa trên nguồn báo cáo của Viện Năng lượng trong đó có thông tin từ EVN nhận định, năm 2021, lượng điện tái tạo không khai thác được khoảng 1,68 tỷ kWh, trong đó khoảng 1,25 tỷ kWh là điện mặt trời và 430 triệu kWh điện gió, tương đương khoảng 7 đến 9% sản lượng khả dụng (EVN). Đây không phải vấn đề riêng của Việt Nam, theo một bài viết đăng tải trong năm 2025 của pv magazine, Chile năm 2024 cắt giảm 5,9 TWh điện tái tạo, thiệt hại khoảng 562 triệu USD, cũng vì lưới không tải kịp công suất phát đỉnh ở vùng nắng tốt. Bài học chung là tài nguyên nắng dồi dào trở nên vô nghĩa nếu truyền tải và lưu trữ không theo kịp.

Thứ ba, là khoảng trống cơ chế giá hậu FIT, khi FIT2 hết hạn vào cuối năm 2020 mà chưa có cơ chế thay thế kịp thời. Đầu năm 2023, Bộ Công Thương ban hành khung giá phát điện cho các dự án điện gió, điện mặt trời chuyển tiếp với mức trần từ 1.184,9 đến 1.815,95 đồng/kWh tùy loại hình dự án. Đây được xem là giải pháp tạm thời nhằm tháo gỡ hàng loạt dự án đã hoàn thành đầu tư nhưng chưa được vận hành thương mại. Tuy nhiên, nhiều chủ đầu tư cho rằng mức giá mới thấp hơn đáng kể so với cơ chế FIT trước đó, khiến hiệu quả tài chính suy giảm và thời gian hoàn vốn kéo dài.

Thứ tư, là sự thiếu vắng các hệ thống lưu trữ năng lượng, đến năm 2024, Việt Nam hầu như chưa có dự án pin lưu trữ quy mô thương mại đấu nối với lưới điện quốc gia; các ứng dụng lưu trữ mới chủ yếu dừng ở quy mô sau công tơ hoặc các mô hình thí điểm. Việc thiếu năng lực lưu trữ khiến hệ thống điện gặp khó trong hấp thụ nguồn điện mặt trời vào những thời điểm phát điện cao nhưng nhu cầu phụ tải thấp. Khi không thể tích trữ phần điện dư để sử dụng vào các khung giờ khác, giải pháp thường phải áp dụng là tiết giảm công suất. Điều đó cũng đồng nghĩa dư địa phát triển điện mặt trời bị thu hẹp và tốc độ tăng trưởng của nguồn điện này khó có thể duy trì như giai đoạn bùng nổ trước đây.

Bốn khoản phải trả của cú nhảy thần tốc khiến công tác đầu tư xây dựng lưới truyền tải và lưu trữ không theo kịp tốc độ lắp đặt nguồn

Bốn "khoản phải trả" của giai đoạn bùng nổ điện mặt trời thực chất không phải những vấn đề riêng lẻ. Chúng là các mặt khác nhau của cùng một bài toán: một cơ chế khuyến khích đủ mạnh để kích hoạt đầu tư, nhưng chưa gắn chặt với quy hoạch không gian phát triển, tiến độ đầu tư lưới điện và năng lực lưu trữ năng lượng.

Cũng với công cụ giá FIT, nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan hay Indonesia từng phát triển khá thận trọng và vì thế chưa khai thác hết tiềm năng. Ngược lại, Việt Nam mở cửa rất nhanh và thu được một cuộc bùng nổ đầu tư hiếm có, nhưng đồng thời phải đối mặt với tình trạng quá tải lưới điện, cắt giảm công suất và áp lực điều độ hệ thống. Ranh giới giữa hai thái cực ấy chính là nơi chính sách năng lượng phải tìm được điểm cân bằng.

Sau giai đoạn tăng trưởng nóng, khung pháp lý giai đoạn 2024 - 2025 đã bắt đầu chuyển hướng từ mục tiêu phát triển nhanh sang phát triển đồng bộ và bền vững hơn. Điểm đáng chú ý là lần này nền tảng không còn chỉ là các quyết định về cơ chế giá, mà đã được luật hóa.

Luật Điện lực số 61/2024/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 30/11/2024 và có hiệu lực từ ngày 1/2/2025, lần đầu tiên quy định cơ chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đối với các dự án nguồn điện. Luật cũng khuyến khích phát triển điện gió, điện mặt trời theo hướng gắn với hệ thống lưu trữ năng lượng và sản xuất hydrogen xanh.

Đáng chú ý, Điều 22 của Luật lần đầu tiên luật hóa mô hình điện tự sản xuất, tự tiêu thụ từ nguồn năng lượng tái tạo. Theo đó, hệ thống điện tự sản tự tiêu được đấu nối với lưới điện quốc gia, được bán phần điện dư theo quy định và được hưởng các cơ chế hỗ trợ phù hợp. Đối với hộ gia đình, Nhà nước khuyến khích lắp đặt điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ điện.

Đây cũng là điểm thường bị nhầm lẫn trong nhiều bài viết phổ thông. Điều 22 là điều khoản quy định về điện tự sản xuất, tự tiêu thụ từ năng lượng tái tạo, trong khi Điều 33 của Luật chủ yếu quy định về các trường hợp được miễn giấy phép hoạt động điện lực. Sự khác biệt này cho thấy tư duy chính sách đã thay đổi: từ việc tập trung thúc đẩy công suất lắp đặt sang xây dựng một hệ sinh thái điện tái tạo gắn với tiêu dùng tại chỗ, lưu trữ năng lượng và vận hành hệ thống điện an toàn hơn.

Trên nền luật ấy, các con số đích được nâng lên một bậc, theo Quyết định 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu phát triển điện mặt trời đạt 46.459–73.416 MW vào năm 2030, chiếm khoảng 25,3 - 31,1% tổng công suất nguồn điện. Đồng thời, quy hoạch lần đầu tiên đặt mục tiêu phát triển hệ thống pin lưu trữ (BESS) với quy mô 10.000 - 16.300 MW nhằm nâng cao khả năng tích hợp và vận hành các nguồn năng lượng tái tạo. So với Quyết định 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Quy hoạch điện VIII vốn chỉ đặt mục tiêu điện mặt trời ở mức 12.836 MW (khoảng 8,5% tổng công suất nguồn), quy mô điện mặt trời theo quy hoạch điều chỉnh đã tăng lên khoảng 3,6 - 5,7 lần.

Bước nhảy chính sách đó cho thấy Việt Nam tiếp tục chọn điện mặt trời với tham vọng lớn hơn. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nâng mục tiêu tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp lên khoảng 25 - 30% vào năm 2030, cao hơn mức 15 - 20% được đặt ra tại Nghị quyết 55-NQ/TW. Đồng thời, Nghị quyết xác định bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, tiền đề quan trọng để phát triển đất nước và là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia; khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, không bị giới hạn bởi chỉ tiêu quy hoạch công suất nguồn điện.

Chủ trương của Đảng tại Nghị quyết 55 và Nghị quyết 70-NQ/TW tiếp đó được Quốc hội thể chế hóa thành khung pháp lý bằng Nghị quyết 253/2025/QH15 thông qua ngày 11/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 đến 2030. Mạch chính sách từ đó được hình thành xuyên suốt, từ định hướng chiến lược của Đảng, được thể chế hóa bằng pháp luật của Quốc hội, đến các nghị định và quyết định điều hành của Chính phủ. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ hai chỉ tiêu thường dễ bị nhầm lẫn, mục tiêu 25 - 30% nêu trong Nghị quyết 70-NQ/TW là tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp của nền kinh tế, không phải tỷ trọng điện năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện. Đây là hai chỉ tiêu có phạm vi tính toán khác nhau, trong đó tỷ trọng điện tái tạo trong cơ cấu nguồn điện thường cao hơn do chỉ phản ánh lĩnh vực điện.

Nguồn: