Đóng

Doanh nghiệp dân tộc: Đã đến thời của những ‘sếu đầu đàn’

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam vừa được Trung ương ban hành đã đề ra tầm nhìn đến các năm: 2030, 2035, 2045 và 2031. Mỗi giai đoạn Nghị quyết hướng đến một mục tiêu chiến lược. Trong đó, đến 2031 Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của châu Á…

Đến năm 2030, Nghị quyết 19 - NQ/TW (Nghị quyết 19) đề ra mục tiêu hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Tạo đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, hạ tầng năng lực tri thức quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Một trong các nhiệm vụ, giải pháp để đạt được các mục tiêu chiến lược nêu trên được Nghị quyết 19 đề ra là: tái cấu trúc hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước kiến tạo phát triển, định hướng và chia sẻ rủi ro. Phát triển cơ chế vốn mồi của Nhà nước, đồng đầu tư công - tư, đặt hàng chiến lược và Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia; hình thành doanh nghiệp dân tộc dẫn dắt trong các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp nền tảng và thị trường chiến lược.

Bên cạnh vai trò chủ lực bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Tập đoàn Petrovietnam có điều kiện chuyển dịch theo hướng trở thành nhà cung cấp giải pháp năng lượng tích hợp cho các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao; phát triển nguồn điện nền quy mô lớn phục vụ trung tâm dữ liệu, công nghiệp bán dẫn, khu công nghệ cao.

Nhìn lại trong quá khứ, từ những nhà tư sản dân tộc đầu thế kỷ 20 đến các doanh nghiệp có quy mô lớn hôm nay, doanh nhân, doanh nghiệp Việt luôn gắn sự nghiệp kinh doanh với vận mệnh đất nước.

Ở giai đoạn hiện tại, khi chủ trương, nguồn lực và cơ hội cùng hội tụ, đã hội đủ điều kiện để hình thành những doanh nghiệp dân tộc đủ sức dẫn dắt nền kinh tế bước vào kỷ nguyên thịnh vượng.

Mạch nguồn kinh doanh trong dòng chảy lịch sử

Lịch sử kinh tế Việt Nam cho thấy doanh nhân, doanh nghiệp chưa bao giờ đứng ngoài vận mệnh dân tộc. Từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, khi giai cấp tư sản và tiểu tư sản dân tộc hình thành, nhiều nhà tư sản đã cổ vũ, ủng hộ phong trào yêu nước của các văn thân, sỹ phu, rồi tham gia và đóng góp vào công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Ngay trong khói lửa chiến tranh, tinh thần kinh doanh của người Việt vẫn được nuôi dưỡng bền bỉ. Kháng chiến chống Pháp kết tinh tinh thần ấy thành khẩu hiệu “Kháng chiến, Kiến quốc”, khuyến khích sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, vận động xây dựng nhà máy, phát triển các chợ và luồng giao thương phục vụ chiến sỹ, nhân dân. Trong kháng chiến chống Mỹ là chủ trương xây dựng miền Bắc thành “hậu phương lớn”, tự lực, tự cường phát triển kinh tế. 

Mạch nguồn đổi mới cũng đã sớm xuất hiện. Chính sách “khoán hộ” trong nông nghiệp ở Vĩnh Phúc từ thời kháng chiến chống Mỹ, gắn lợi ích của người nông dân với kết quả lao động, là một tìm tòi phương thức quản lý mới, làm thay đổi căn bản kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Từ đầu thập niên 1980, những bài học về giải phóng sức sáng tạo, tự chủ sản xuất kinh doanh, xóa bỏ bao cấp và “ngăn sông cấm chợ” đã hình thành đường lối Đổi mới, đưa đất nước lên một tầm cao và vị thế mới sau gần 40 năm đổi mới, hội nhập.

Cùng với quá trình ấy là hành trình hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách nhằm nêu cao vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Sứ mệnh lịch sử

Khát vọng vươn lên của doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam ngày nay được cộng hưởng với thời cơ và thể chế để phát triển.

Trước Nghị quyết 19, nhiều nghị quyết quan trọng mở đường cho doanh nghiệp phát triển đã được Đảng và Nhà nước ban hành. Đó là Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia.

Tiếp đó là Nghị quyết 79 -NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, đặt mục tiêu đến năm 2030: Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. Phấn đấu đến năm 2045, khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Nghị quyết số 19 tiến thêm một bước, yêu cầu “tập trung phát triển lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp đầu chuỗi” và “hình thành doanh nghiệp dân tộc dẫn dắt trong các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp nền tảng và thị trường chiến lược”, đi kèm “cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ của Nhà nước”. Có thể nói đây là một sứ mệnh lịch sử đối với cộng đồng doanh nghiệp. 

Không phải ngẫu nghiên yêu cầu đó lại được đặt ra ở thời điểm hiện tại. Có ít nhất 3 điều kiện đã chín muồi.

Ngày 16/1/2026, tại Hà Nội, Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) khởi công xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam. Trong ảnh: Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel phát biểu tại sự kiện cho biết, phấn đấu đến hết năm 2027 hoàn thành đầu tư xây dựng, nhận chuyển giao công nghệ và bắt đầu sản xuất thử nghiệm.

Thứ nhất, đất nước đã có một lớp doanh nghiệp đủ tầm. Kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng một nửa GDP, 30% ngân sách nhà nước và phần lớn việc làm (sử dụng khoảng 82% lao động vào tăng trưởng kinh tế); đã xuất hiện những doanh nghiệp vươn ra khu vực và thế giới. Hiện nay, đất nước đã có nhiều doanh nghiệp quy mô lớn hiện diện trong nhiều lực vực. Có thể kể tới Petrovietnam trong lĩnh vực năng lượng, Viettel trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ, bán dẫn; VinFast trong ô tô điện; Hòa Phát trong lĩnh vực thép; Vinamilk trong lĩnh vực thực phẩm… Đây là nền tảng thể hiện thực lực mà những thập niên trước chưa có. “Sếu đầu đàn” không còn là kỳ vọng mà đã có những cái tên cụ thể.

Điều kiện thứ hai là các chính sách hỗ trợ chưa từng có. Nghị quyết 19 đã trao công cụ cụ thể: “phát triển cơ chế vốn mồi của Nhà nước, đồng đầu tư công – tư, đặt hàng chiến lược và Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia”, cùng định hướng phát triển “hệ sinh thái doanh nghiệp theo các tầng liên kết, bổ trợ lẫn nhau với các chính sách riêng biệt có trọng tâm và mục tiêu cụ thể” và “cơ chế đột phá thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Có vốn mồi, có đơn đặt hàng, có cơ chế chia sẻ rủi ro chính là những mảnh ghép quan trọng để một đầu tàu cất cánh và kéo theo cả chuỗi doanh nghiệp phụ trợ. 

Điều kiện thứ ba là sự sẵn sàng tham gia của các doanh nghiệp. Sau khi Nghị quyết 68 được ban hành, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã chủ động xin tham gia các “siêu” dự án. Cùng với đó là những “đơn hàng” chiến lược đang mở ra ở các lĩnh vực trọng yếu như: bán dẫn, năng lượng, hạ tần, tạo dư địa cho doanh nghiệp Việt vươn lên nấc cao hơn. Cầu đã có với quy mô đủ lớn để doanh nghiệp Việt phát triển thành những đầu tàu tầm cỡ.

Tựu trung lại, khi thể chế, nguồn lực và cơ hội cùng hội tụ, điều kiện để hình thành những “sếu đầu đàn” đã đủ. Như tinh thần Nghị quyết 19, thành công của chủ trương này rồi sẽ được đo bằng số doanh nghiệp Việt thực sự làm chủ công nghệ và chuỗi giá trị, minh chứng rằng doanh nghiệp dân tộc, một lần nữa, đứng ở vị trí trung tâm của công cuộc kiến tạo thịnh vượng cho đất nước.

Tái cấu trúc hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước kiến tạo phát triển, định hướng và chia sẻ rủi ro. Phát triển cơ chế vốn mồi của Nhà nước, đồng đầu tư công - tư, đặt hàng chiến lược và Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia; hình thành doanh nghiệp dân tộc dẫn dắt trong các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp nền tảng và thị trường chiến lược. Đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản, phòng thí nghiệm trọng điểm; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, sở hữu trí tuệ, công nghệ lõi; hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.

Trích Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Nguyên Thành