Doanh nghiệp hoá chất đầu tư truy xuất nguồn gốc
Ngày 22/5, tại tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng” do Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) phối hợp cùng tạp chí Tiếp thị & Gia đình tổ chức, câu chuyện truy xuất nguồn gốc tiếp tục được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết với nhiều ngành sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực hóa chất và phân bón.
Tham dự tọa đàm có lãnh đạo các cơ quan quản lý, chuyên gia công nghệ cùng đại diện nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn trong lĩnh vực hóa chất, phân bón, xăng dầu, khí,...
Tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng”.
Trong nhiều năm qua, tình trạng hàng giả, hàng nhái luôn là bài toán nan giải với các doanh nghiệp sản xuất hóa chất, phân bón. Đặc biệt, ngành hoá chất với đặc thù thị trường rộng, sản lượng lớn và hệ thống phân phối trải dài nhiều địa phương, nhiều thương hiệu lớn liên tục trở thành mục tiêu bị làm giả.
Tại tọa đàm, đại diện đến từ các doanh nghiệp cho biết, nhiều sản phẩm ngành hoá chất từng bị sao chép mẫu mã, bao bì để đưa ra thị trường tiêu thụ. Ví dụ như các sản phẩm của Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền bị các đối tượng làm giả từ bao bì đến hình thức nhận diện. Thực trạng càng đáng báo động khi thiệt hại không dừng ở doanh thu mà còn tác động tới uy tín thương hiệu và niềm tin của người tiêu dùng.
Ông Nguyễn Quốc An, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cho biết, tình trạng hàng giả khiến doanh nghiệp “thực sự trăn trở”.
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) phát biểu tại toạ đàm.
“Thiệt hại do hàng giả gây ra không chỉ nằm ở doanh thu hay giá trị kinh tế có thể đo đếm được mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín thương hiệu, niềm tin của người tiêu dùng và cả hiệu quả sản xuất của bà con nông dân”, ông Nguyễn Quốc An chia sẻ.
Trước đây, doanh nghiệp từng nhiều lần thay đổi chất liệu bao bì, thiết kế mẫu mã mới để chống hàng giả. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, trên thị trường lại xuất hiện các sản phẩm nhái có hình thức tương tự.
“Từ năm 2021, Supe Lâm Thao bắt đầu triển khai tem thông minh tích hợp mã QR trên sản phẩm đồng thời in ký hiệu bản quyền lên logo “Ba nhành cọ” - bộ nhận diện thương hiệu độc quyền của doanh nghiệp”, ông An nhấn mạnh.
Theo đại diện doanh nghiệp, việc áp dụng QR code vừa xuất phát từ nhu cầu bảo vệ thương hiệu, vừa nhằm hỗ trợ người tiêu dùng dễ dàng nhận diện sản phẩm chính hãng. Giờ đây, chỉ với thao tác quét mã QR trên bao bì bằng điện thoại người mua có thể kiểm tra nguồn gốc, thông tin sản phẩm và xác thực hàng thật.
“Việc triển khai QR code vừa là nhu cầu nội tại rất cần thiết của doanh nghiệp, vừa là giải pháp để bảo vệ thương hiệu”, ông An cho biết.
Theo Supe Lâm Thao, sau một mã QR nhỏ trên bao bì doanh nghiệp không chỉ cung cấp một vài thông tin sản phẩm cơ bản mà cả một hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa.
Ông Nguyễn Quốc An cho biết, để có các thông tin chi tiết, cụ thể đến người tiêu dùng doanh nghiệp phải xây dựng hạ tầng dữ liệu phục vụ mã hóa thông tin, quản lý chuỗi phân phối và bảo mật chống giả. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể kiểm soát sản phẩm tới từng đơn vị, từng điểm bán đồng thời tăng tính minh bạch trong quản lý thị trường.
Ông Nguyễn Quốc An, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao (ở giữa) phát biểu tại toạ đàm.
Chia sẻ tại toạ đàm, ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền cho biết, hoạt động truy xuất thực tế đã được doanh nghiệp triển khai từ rất lâu thông qua các số lô sản xuất và dấu hiệu nhận diện trên bao bì.
Theo ông Tâm, trước đây việc truy xuất chủ yếu được thực hiện thủ công nên còn mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ, doanh nghiệp hiện đang chuyển sang các giải pháp truy xuất sâu hơn như QR code hay RFID (công nghệ nhận dạng đối tượng tự động thông qua sóng vô tuyến).
Đại diện Bình Điền cho biết, mỗi năm doanh nghiệp đưa ra thị trường khoảng 700.000 tấn sản phẩm, tương đương hàng chục triệu bao bì. Vì vậy, với quy mô lớn, việc doanh nghiệp thao tác thủ công với từng mã QR gần như không khả thi.
“Doanh nghiệp đang thử nghiệm công nghệ RFID nhằm phục vụ truy xuất toàn diện hơn, hướng tới khả năng theo dõi toàn bộ hành trình sản phẩm từ nguyên liệu, sản xuất đến phân phối và tiêu dùng”, ông Tâm chia sẻ.
Nhiều yêu cầu mới trong truy xuất nguồn gốc
Theo các chuyên gia tại toạ đàm, hiện nay Việt Nam và nhiều quốc gia đang áp dụng đa dạng công nghệ truy xuất nguồn gốc như mã vạch một chiều, QR code, RFID hay blockchain. Trong đó, QR code vẫn là giải pháp phổ biến nhất do người dân và doanh nghiệp đã bắt đầu quen thuộc và dễ tiếp cận.
Đáng chú ý, áp lực triển khai truy xuất nguồn gốc hiện không chỉ đến từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp mà còn từ các quy định pháp lý mới. Dự thảo Thông tư được xây dựng nhằm triển khai Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung Luật số 05/2007/QH12) và được cụ thể hóa tại Nghị định số 37 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật.
Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền (ở giữa) chia sẻ tại toạ đàm.
Theo đó, các mặt hàng thuộc danh mục có mức độ rủi ro cao sẽ bắt buộc thực hiện truy xuất nguồn gốc, đối với các sản phẩm, hàng hóa khác thì khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện áp dụng.
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7 tới, đặt ra nhiều yêu cầu mới liên quan đến minh bạch nguồn gốc hàng hóa. Trong đó, các mặt hàng có mức độ rủi ro cao, có khả năng ảnh hưởng tới môi trường, sức khỏe và an toàn người tiêu dùng sẽ bắt buộc phải thực hiện truy xuất nguồn gốc.
“Điều đó cho thấy truy xuất nguồn gốc không còn chỉ là xu hướng hay khuyến nghị, mà đang từng bước trở thành yêu cầu tất yếu trong quản lý sản xuất và lưu thông hàng hóa hiện đại”, ông Trần Hữu Linh nhấn mạnh.
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều doanh nghiệp hóa chất đang buộc phải tăng tốc đầu tư công nghệ truy xuất như một phần trong chiến lược bảo vệ thương hiệu, quản trị thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.