Đóng

Doanh nghiệp kiến nghị sửa đổi Nghị định 46 sát với thực tiễn

Một số doanh nghiệp phản ánh một số nhóm quy định mới của Nghị định 46 tạo áp lực tuân thủ lớn hơn, cần được điều chỉnh linh hoạt hơn trong quá trình triển khai.

Tinh thần cầu thị, lắng nghe và đồng hành với doanh nghiệp

Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/1/2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm (có hiệu lực ngay từ ngày ký) và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP ngày 27/1/2026 của Chính phủ quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm đã thể hiện nỗ lực lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, hướng tới việc lấp đầy "lỗ hổng", tăng cường trách nhiệm trong sản xuất và phân phối thực phẩm.

Tuy nhiên, theo phản ánh của một số hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp, quá trình triển khai các quy định mới trong thời gian ngắn vừa qua đã phát sinh không ít khó khăn. Trong bối cảnh đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/2026/NQ-CP tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đến hết ngày 15/4/2026. Đây là khoảng thời gian quý báu để rà soát, điều chỉnh và chuẩn bị cho việc thực thi chính sách một cách hiệu quả, thực chất hơn; đồng thời cho thấy tinh thần cầu thị, lắng nghe và đồng hành với doanh nghiệp.

Doanh nghiệp phản ánh nhiều quy định mới gây áp lực tuân thủ. Ảnh minh hoa

Phân tích về tác động của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm bảo vệ sức khỏe cho rằng, hoàn toàn ủng hộ mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm, bởi uy tín sản phẩm và sự tồn tại của doanh nghiệp gắn chặt với niềm tin của người tiêu dùng. Song cũng cho rằng, một số nhóm quy định mới tạo áp lực tuân thủ lớn hơn, cần được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn trong quá trình triển khai.

Một trong những nội dung được doanh nghiệp phản ánh nhiều nhất là quy định về quảng cáo. Theo đó, quy định về từ ngữ quảng cáo hiện được áp dụng chặt chẽ hơn, yêu cầu dẫn chứng khoa học ở mức cao, trong một số trường hợp tiệm cận chuẩn của thuốc. Thời gian thẩm định nội dung quảng cáo có thể kéo dài nếu phải bổ sung hồ sơ, làm ảnh hưởng đến kế hoạch truyền thông và cơ hội kinh doanh.

Đặc thù của thực phẩm bảo vệ sức khỏe là cần truyền thông mang tính giáo dục để người tiêu dùng hiểu công dụng hỗ trợ, nếu ngôn ngữ bị giới hạn quá mức, thông tin truyền tải có thể trở nên quá an toàn, khiến người tiêu dùng không nắm rõ sản phẩm dùng để làm gì.

Bên cạnh quảng cáo, yêu cầu về hồ sơ công bố sản phẩm cũng được đánh giá là tăng nặng. Trong quá trình triển khai, yêu cầu về tài liệu chứng minh công dụng và an toàn có xu hướng chi tiết, tương đương chuẩn dược phẩm trong nhiều trường hợp. Một số yêu cầu kiểm nghiệm bổ sung làm tăng chi phí, đặc biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Chi phí kiểm nghiệm và chuẩn bị hồ sơ tăng cao có thể dẫn đến rủi ro đứt nguồn hàng, nhất là với sản phẩm nhập khẩu. Thời gian hoàn thiện hồ sơ kéo dài khiến doanh nghiệp khó xoay chuyển nhanh theo nhu cầu thị trường.

Ngoài ra, nghị định quy định thời hạn xử lý hồ sơ xác nhận nội dung quảng cáo là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đặc biệt, mỗi lần thay đổi nhỏ về nhãn, thành phần hoặc thông tin kỹ thuật đều phải thực hiện lại nhiều bước, làm gia tăng chi phí và thời gian. Hệ quả là mất cơ hội thị trường, giảm khả năng linh hoạt trong điều chỉnh sản phẩm.

Trước đó, tại hội thảo "Tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật mới về an toàn thực phẩm" do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ở Hà Nội ngày 6/2, bàn về những bất cập của Nghị định 46 hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm, ông Huỳnh Quang Tuấn - Đại diện Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) bày tỏ lo ngại về áp lực "đăng ký lại" toàn bộ sản phẩm trong vòng 12 - 24 tháng.

Với thời gian thẩm định kéo dài và khối lượng hồ sơ tăng gấp nhiều lần, các cơ quan quản lý được dự báo sẽ rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng. Hệ quả là nhiều sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe và thực phẩm bổ sung có nguy cơ không kịp gia hạn giấy phép và buộc phải rút khỏi thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người tiêu dùng và sự ổn định của thị trường thực phẩm.

Đại diện Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT) cũng cho biết, nghị định mới đang mở rộng diện kiểm tra nhà nước một cách thiếu chọn lọc. Không chỉ thành phẩm nhập khẩu, mà cả nguyên liệu, phụ gia, bao bì phục vụ sản xuất nội bộ cũng bị đưa vào diện tiền kiểm, kèm yêu cầu công bố hợp quy.

AFT dẫn trường hợp một lô hàng nhập từ Ấn Độ đã có đầy đủ chứng nhận hữu cơ và lịch sử xuất khẩu ổn định vào Việt Nam, song vẫn phải xin thêm giấy chứng nhận an toàn thực phẩm do cơ quan nhà nước xuất khẩu cấp, đồng thời lấy mẫu kiểm nghiệm tại các phòng được chỉ định trong nước. Thực tế nhiều phòng kiểm nghiệm chưa có hướng dẫn cụ thể, còn chỉ tiêu kiểm tra theo yêu cầu Bộ Y tế phức tạp và khác biệt với chuẩn quốc tế.

Kiến nghị giải pháp căn cơ

Trước các khó khăn nêu trên, đại diện các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hài hòa giữa mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
 
Theo đó, về quảng cáo, đề xuất phân cấp rõ hơn các nhóm công bố công dụng, gồm công bố dinh dưỡng cơ bản, công bố hỗ trợ chức năng và công bố có điều kiện với mức chứng cứ phù hợp từng cấp độ. Mỗi nhóm nên có tiêu chí và yêu cầu chứng minh khác nhau, tránh áp dụng đồng loạt một chuẩn cao cho mọi sản phẩm.
 
Bên cạnh đó, kiến nghị ban hành hướng dẫn mẫu về các cụm từ và cách diễn đạt được phép sử dụng trong quảng cáo. Việc có bộ hướng dẫn cụ thể sẽ giúp giảm tình trạng cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan thẩm định.
 
Đối với hồ sơ công bố sản phẩm, đề xuất cơ chế công nhận tương đương đối với dữ liệu khoa học và hồ sơ đã được cơ quan quản lý uy tín quốc tế thẩm định, như FDA của Hoa Kỳ hoặc cơ quan có thẩm quyền tại Liên minh châu Âu, Nhật Bản. Cơ chế này có thể giảm trùng lặp kiểm nghiệm và tiết kiệm chi phí.
 
Ngoài ra, kiến nghị chuyển từ tiền kiểm toàn diện sang cơ chế hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro. Theo hướng này, cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào nhóm sản phẩm hoặc doanh nghiệp có nguy cơ cao, trong khi tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tuân thủ tốt.
 
Về thủ tục hành chính, đề xuất nghiên cứu cơ chế chấp thuận mặc nhiên, theo đó nếu quá thời hạn quy định mà cơ quan quản lý không có ý kiến phản hồi thì hồ sơ được coi là chấp thuận. Đối với các thay đổi kỹ thuật nhỏ không làm thay đổi bản chất sản phẩm, kiến nghị cho phép thực hiện theo hình thức thông báo thay vì lập lại hồ sơ từ đầu.

Trước tình trạng ách tắc hàng trăm nghìn tấn nông sản, thực phẩm nhập khẩu tại các cửa khẩu do vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị định số 46/2026/NĐ-CP, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành liên quan khẩn trương vào cuộc, phối hợp xử lý, tháo gỡ vướng mắc.

Với Nghị quyết 09, những khó khăn mà doanh nghiệp đang lo ngại đã tạm dừng nhưng sẽ trở lại ngay sau ngày 15/4. Từ thực tế quá trình xây dựng và ban hành Nghị định 46, các doanh nghiệp kiến nghị khôi phục cơ chế tham vấn rộng rãi với các hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp và giới chuyên môn, đồng thời sớm hình thành một đầu mối điều phối việc tổng hợp, phản biện chính sách nhằm góp ý hoàn thiện Luật An toàn thực phẩm, góp phần ổn định môi trường kinh doanh.

Chí Tâm