Đóng

Đổi mới mô hình phát triển quốc gia: Từ khái niệm đến thực thi

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác lập rõ hơn mô hình phát triển Việt Nam trong giai đoạn mới; đặt ra yêu cầu đổi mới cách thức tổ chức và vận hành quốc gia.

Sau 40 năm Đổi mới và 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng 2 con số; đổi mới mô hình phát triển không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với tương lai đất nước. Ảnh: Giang Sơn Đông

Tuy nhiên, theo đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tại Nghị quyết số 19-NQ/TW (Nghị quyết số 19) quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước vẫn còn chậm; tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp, trong khi năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tự chủ chiến lược chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, đổi mới mô hình phát triển không còn là lựa chọn, mà trở thành yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với tương lai đất nước.

Phát triển không đồng nhất với tăng trưởng

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, mọi cải cách lớn đều bắt đầu từ nhận thức đúng. Quốc gia chỉ có thể bứt phá khi xác định đúng mục tiêu phát triển và thiết kế được con đường phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đó.

“Nhận thức đúng sẽ giúp nguồn lực được tập trung; nhận thức chưa đầy đủ sẽ dẫn tới đầu tư dàn trải và cải cách thiếu hiệu quả”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh.

Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, trong giai đoạn đầu phát triển, tăng trưởng kinh tế có thể được xem là thước đo trung tâm. Nhưng khi nền kinh tế đạt đến trình độ nhất định, tăng trưởng không còn phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển, bởi đi kèm với tăng trưởng có thể là bất bình đẳng gia tăng, suy giảm chất lượng môi trường, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và sự suy yếu của năng lực cạnh tranh dài hạn.

Do đó, phát triển phải được hiểu là sự gia tăng đồng thời của bốn giá trị nền tảng: thịnh vượng kinh tế, công bằng và bao trùm xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân và năng lực quốc gia.

Trong bối cảnh hiện nay, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đã trở thành động lực trung tâm có khả năng tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới phương thức quản trị và tạo lập năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây cũng chính là cách tiếp cận được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết số 19.

Nghị quyết xác định, đổi mới mô hình phát triển trước hết phải bắt đầu từ đổi mới thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia, tạo ra năng lực phát triển mới, đưa đất nước chuyển sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, điểm đặc biệt của Nghị quyết số 19 là lần đầu tiên mô hình được đặt trong một chỉnh thể xuyên suốt: thể chế, quản trị quốc gia và cơ chế tổ chức thực hiện.

Nếu trước đây các văn kiện chủ yếu trả lời câu hỏi: Việt Nam cần phát triển theo hướng nào? Thì nay, Nghị quyết số 19 đồng thời trả lời câu hỏi Việt Nam phải tổ chức hệ thống phát triển như thế nào để mô hình đó vận hành hiệu quả trong thực tiễn. Nghị quyết số 19 đã thể hiện rõ bước chuyển từ “tư duy xác lập mục tiêu” sang “tư duy kiến tạo năng lực thực thi”.

Trong mô hình đó, con người được xác định vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trở thành động lực chủ yếu; Nhà nước, thị trường và xã hội được tổ chức theo mối quan hệ hài hòa, hiệu quả trên nền tảng quản trị quốc gia hiện đại và cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ".

Về tầm nhìn phát triển, trình bày chuyên đề tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương thông tin, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu cơ bản hình thành các nền tảng của mô hình phát triển mới với những đột phá về thể chế, quản trị quốc gia, khoa học - công nghệ, hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ doanh nghiệp dẫn dắt.

Đến năm 2035, quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập cơ bản hoàn thành với bảy mô hình thành phần phát triển đồng bộ, gồm kinh tế; xã hội; văn hóa, con người; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh; đối ngoại, hội nhập quốc tế; và quản trị quốc gia.

Mục tiêu đến năm 2045 là đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; tầm nhìn đến năm 2130 hướng tới một quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại và có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu.

Nghị quyết số 19-NQ/TW đã xác lập rõ mô hình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Vấn đề trọng tâm là, làm thế nào để mô hình đó được hiện thực hóa trong thực tiễn. Ảnh: Lê Linh

Vì sao mô hình vẫn cần được hiện thực hóa mạnh mẽ?

Theo quan điểm của TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Nghị quyết 19 đã xác lập rõ mô hình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Vấn đề trọng tâm hiện nay là, làm thế nào để mô hình đó được hiện thực hóa trong thực tiễn.

Việt Nam không thiếu chủ trương đúng. Những định hướng lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác lập khá đầy đủ trong nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và kết quả vẫn còn khá lớn.

Đơn cử, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực trung tâm của nền kinh tế; đổi mới sáng tạo chưa lan tỏa rộng trong toàn xã hội; chuyển đổi số ở nhiều nơi vẫn thiên về số hóa quy trình hiện có hơn là tạo ra những phương thức vận hành hoàn toàn mới.

Từ thực tiễn đó, TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho hay, điểm nghẽn chủ yếu không nằm ở việc thiếu chính sách, mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện. Những hạn chế hiện nay mang tính cấu trúc, phản ánh sự đứt gãy trong toàn bộ chuỗi thực thi chính sách. Đồng thời chỉ ra ba điểm nghẽn mang tính cấu trúc đang cản trở quá trình hiện thực hóa mô hình phát triển mới.

Thứ nhất, là đứt gãy giữa thiết kế chính sách và tổ chức thực hiện. Nhiều chủ trương đúng nhưng chưa tạo được kết quả tương xứng vì thiếu cơ chế chuyển hóa từ mục tiêu thành hành động cụ thể. Không ít nơi mới dừng ở việc "số hóa cái cũ", thay vì đổi mới toàn bộ phương thức vận hành.

Thứ hai, là đứt gãy giữa trách nhiệm và kết quả. Hệ thống đánh giá trong khu vực công vẫn chủ yếu dựa trên mức độ tuân thủ quy trình, trong khi hiệu quả đầu ra và tác động cuối cùng chưa thực sự trở thành thước đo trung tâm. Trách nhiệm liên ngành còn phân tán, dẫn đến tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không xác định rõ ai chịu trách nhiệm đến cùng đối với kết quả.

Thứ ba là đứt gãy giữa dữ liệu và quyết định. Dữ liệu ngày càng phong phú nhưng còn phân tán, thiếu kết nối và chuẩn hóa, khiến quá trình điều hành vẫn phụ thuộc nhiều vào báo cáo hành chính có độ trễ thay vì thông tin thời gian thực.

Với 3 điểm nghẽn trên, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhìn nhận, những hạn chế này không phải là các vấn đề riêng lẻ, mà phản ánh cách thức hệ thống đang vận hành. Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển trước hết là thiết kế lại hệ thống quản trị để mọi khâu trong chuỗi thực thi được kết nối hữu cơ, cùng hướng tới mục tiêu phát triển.

“Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 19 khi xác định đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá, chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang tư duy kiến tạo phát triển; từ quản trị theo quy trình sang quản trị theo mục tiêu và kết quả; từ điều hành dựa trên kinh nghiệm sang điều hành dựa trên dữ liệu và bằng chứng”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nói.

Thành công sẽ được đo bằng kết quả

Điểm đáng chú ý là Nghị quyết không chỉ xác định mục tiêu phát triển, mà còn đồng thời thiết kế cơ chế tổ chức thực hiện. Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy lãnh đạo và quản trị, bởi một mô hình phát triển chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực hành động của toàn bộ hệ thống chính trị.

Cùng với Nghị quyết số 19, Bộ Chính trị đã ban hành Chương trình hành động với 51 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và 40 chỉ tiêu chủ yếu, xác định rõ lộ trình, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của từng cơ quan chủ trì. Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, chương trình hành động này thể hiện rõ, tư duy quản trị theo kết quả ngay trong quá trình tổ chức thực hiện.

"Đổi mới mô hình phát triển, xét đến cùng, chính là đổi mới cách thức hệ thống quốc gia vận hành. Khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành nền tảng của quản trị quốc gia và động lực của tăng trưởng, chúng ta mới có thể tạo ra năng lực phát triển mới cho đất nước", TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Con đường hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 không chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng mô hình phát triển, mà còn phụ thuộc vào khả năng của cả hệ thống chính trị trong việc biến mô hình đó thành năng lực hành động, biến chủ trương thành kết quả và biến khát vọng phát triển thành hiện thực.

Nguyên Khánh