Đóng

Dữ liệu vận hành năng lượng: Tài sản chiến lược

Việc Petrovietnam đưa vào vận hành Hệ thống Cơ sở dữ liệu lĩnh vực Điện và Năng lượng tái tạo không chỉ là một bước chuyển đổi số của doanh nghiệp. Điều này còn khẳng định một điều khi dữ liệu từ các nhà máy này được gom về một mối và cập nhật theo thời gian thực, nó trở thành một phần của năng lực bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Cơ sở dữ liệu: Cấu phần quan trọng của an ninh năng lượng

Trong nhiều thập kỷ, an ninh năng lượng được hiểu chủ yếu qua các con số như: Công suất nguồn, trữ lượng than, dầu khí, năng lực truyền tải. Những yếu tố đó được xem nền tảng. Nhưng khi hệ thống điện ngày càng lớn, nhiều thành phần tham gia hơn và biến động nhanh hơn, một tầng an ninh mới đã hình thành: Tầng dữ liệu.

Một hệ thống điện hiện đại có thể được ví như một cơ thể sống, vận hành liên tục từng giây. Trạng thái của từng tổ máy, lượng nhiên liệu tồn kho, giá thành từng kWh, khả năng huy động vào giờ cao điểm… đều được phản ánh qua dữ liệu. Khi dữ liệu ấy đầy đủ, chính xác và kịp thời, công tác điều hành hệ thống sẽ chủ động và an toàn hơn. Ngược lại, nếu dữ liệu bị phân tán, chậm trễ, sai lệch, hoặc 'xấu hơn' là bị xâm nhập, thao túng, thì dù có đủ công suất nguồn, hệ thống vẫn có thể rơi vào thế bị động.

Toàn cảnh Cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau.

Theo Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO), công suất đỉnh ngày 26/5/2026 đạt 58,1 GW, tăng 15% so với cùng kỳ. Trong bối cảnh đó, phát hiện sớm một tổ máy có dấu hiệu bất thường hay một kho nhiên liệu sắp chạm ngưỡng có thể quyết định việc hệ thống có giữ được cân bằng cung - cầu vào giờ cao điểm hay không. Đó không còn là câu chuyện dừng lại ở hiệu quả kinh doanh mà còn là câu chuyện ổn định kinh tế - xã hội.

Điều này đã được thể hiện rõ trong chủ trương của Đảng. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 yêu cầu xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu năng lượng quốc gia; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn bộ các khâu sản xuất, truyền tải, phân phối, tiêu thụ năng lượng; đồng thời nâng cao khả năng bảo đảm an ninh mạng lưới điện. Nói cách khác, dữ liệu đã được đặt vào đúng vị trí của nó: một cấu phần của an ninh năng lượng quốc gia.

Dữ liệu được đặt vào vị trí trung tâm của quản trị

Trong bức tranh chung đó, hệ thống cơ sở dữ liệu vừa được Petrovietnam và Viettel đưa vào vận hành là một ví dụ đáng chú ý, bởi quy mô tài sản mà nó “nhìn thấy”. Tập đoàn hiện quản lý, vận hành 12 nhà máy điện với tổng công suất 8.249 MW, chiếm khoảng 9% tổng công suất nguồn điện quốc gia, chủ yếu là điện khí và điện than, những nguồn chạy nền giữ ổn định cho hệ thống. Theo EVN, đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn toàn hệ thống đạt khoảng 87.600 MW.

Sau hơn một năm triển khai, hệ thống đã kết nối 1.685 mác dữ liệu thời gian thực từ 6 nhà máy điện lớn, tự động thu thập 455 chỉ tiêu về điện khí, điện than và quản trị. Cả 7/7 phân hệ đã hoàn thành, bao quát từ giám sát vận hành, thị trường điện, giá thành, định mức kinh tế - kỹ thuật đến nhiên liệu, vật tư tồn kho. Thời gian tổng hợp một số báo cáo điều hành rút ngắn từ vài ngày xuống còn vài giờ.

Một điểm đáng chú ý là hệ thống do Viettel Solutions triển khai, là sự hợp tác giữa hai tập đoàn nhà nước trong nước. Với dữ liệu vận hành của những nhà máy chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống điện quốc gia, việc làm chủ nền tảng, hạ tầng máy chủ và các kết nối bảo mật là yêu cầu gắn trực tiếp với an toàn thông tin và an ninh năng lượng.

Hệ thống đã qua kiểm thử hiệu năng, kiểm thử an toàn thông tin, kiểm thử chấp nhận người dùng. Hệ thống cũng đã chạy thực tế ổn định khoảng 2 - 3 tháng, không phát sinh sự cố lớn, trước khi công bố chính thức.

Điều đáng bàn không nằm ở các con số kỹ thuật, mà ở ba điểm mang tính nguyên tắc. Một là, dữ liệu của gần 1/10 hệ thống nguồn điện quốc gia lần đầu được gom về một đầu mối, theo thời gian thực. Hai là, hệ thống do một doanh nghiệp công nghệ trong nước là Viettel Solutions triển khai, qua kiểm thử an toàn thông tin và chạy thử ổn định trước khi đưa vào vận hành chính thức, tức là nền tảng, hạ tầng và kết nối bảo mật hoàn toàn ‘Made in Việt Nam’. Ba là, dữ liệu được đặt vào trung tâm của quản trị, gắn với yêu cầu “Đúng - Đủ - Sạch - Sống” mà lãnh đạo Tập đoàn Petrovietnam đưa ra. Đây chính là những yêu cầu mà khung pháp lý về an ninh dữ liệu đang hướng tới.

Số hóa để hiệu quả, làm chủ để an toàn

Quản trị nhà máy điện bằng dữ liệu tập trung không phải câu chuyện riêng của Việt Nam. Từ năm 2017, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã ước tính: Các giải pháp số hóa trong nhà máy điện và lưới điện có thể giúp thế giới tiết kiệm khoảng 80 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2016 - 2040, tương đương khoảng 5% tổng chi phí phát điện hằng năm. Chỉ riêng việc giảm 5% chi phí vận hành, bảo dưỡng nhờ số hóa đã có thể tiết kiệm gần 20 tỷ USD mỗi năm. Nếu tuổi thọ các nhà máy điện trên toàn cầu kéo dài thêm 5 năm, khoảng 1.300 tỷ USD vốn đầu tư có thể được lùi lại.

Tại châu Âu, năm 2018, Tập đoàn Điện lực Enel (Italy) đã triển khai phần mềm quản lý hiệu suất tài sản và bảo trì dự đoán của GE cho 14 nhà máy nhiệt điện (13 nhà máy điện khí, 1 nhà máy điện than) tại châu Âu và Mỹ Latinh, tổng công suất khoảng 7 GW. Mục tiêu là giám sát, dự báo và nâng cao độ tin cậy của các nhà máy, đồng thời giảm chi phí vận hành, bảo dưỡng. Đáng chú ý, cả quy mô (khoảng 7 GW) lẫn cơ cấu nguồn (chủ yếu điện khí, có điện than) của Enel khá tương đồng với khối nhà máy điện của Petrovietnam hiện nay.

Lãnh đạo Petrovietnam và Viettel Solutions thực hiện nghi thức chính thức đưa Hệ thống Cơ sở dữ liệu lĩnh vực Điện và Năng lượng tái tạo vào vận hành.

Tại Hàn Quốc, từ năm 2019, Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc (Kepco) cùng 5 công ty phát điện thành viên và KEPCO KPS đã phát triển mô hình "Nhà máy điện số thông minh" (IDPP). Mô hình này xây dựng một nền tảng chuẩn dùng chung cho các công ty phát điện, cùng 15 chương trình chẩn đoán, dự báo tình trạng nhà máy dựa trên dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. Mục tiêu là tìm ra điều kiện vận hành và thời điểm bảo dưỡng tối ưu, nâng hiệu suất phát điện, phòng ngừa sự cố và giảm phát thải.

Tại Đức, Siemens Energy vận hành các trung tâm vận hành từ xa, giám sát nhiều nhà máy trên thế giới. Theo tạp chí Power (Mỹ, tháng 1/2026), nhà máy điện khí Leipheim (bang Bavaria) được vận hành hoàn toàn từ xa từ trung tâm tại Erlangen. Nhà máy có thể nâng lên công suất tới 300 MW trong vòng 30 phút. Trong một đợt lưới điện Đức mất ổn định, trung tâm này đã huy động nhanh tổ máy để giữ ổn định cung ứng điện. Ở một trường hợp khác, hệ thống giám sát rung động từ xa phát hiện sớm dấu hiệu bất thường ở rotor tua-bin khí, giúp nhà máy tránh được một lần dừng máy ngoài kế hoạch tốn kém.

Điểm chung của các doanh nghiệp trên là dữ liệu tập trung được xem là "tầng móng". Trên nền tảng đó, các doanh nghiệp mới xây được bảo trì dự đoán, vận hành từ xa và tối ưu thị trường. Đây cũng chính là lộ trình mà Petrovietnam đang hướng tới với định hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và bản sao số trong giai đoạn tiếp theo.

Trong kỷ nguyên số, quốc gia nào làm chủ được dữ liệu năng lượng của mình được xem là yếu tố quan trọng trong bảo vệ an ninh năng lượng. Chính vì vậy, việc Petrovietnam đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu cho khoảng 9% công suất nguồn điện quốc gia vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi doanh nghiệp: Đó là một mảnh ghép trong tấm bản đồ an ninh dữ liệu năng lượng mà Việt Nam đang từng bước hoàn thiện. Điều quan trọng tiếp theo là nhân rộng cách làm này trên toàn ngành, kết nối các mảnh ghép lại với nhau và bảo đảm mỗi byte dữ liệu năng lượng đều nằm trong tầm kiểm soát…

Thái Bình