7 tháng, sản lượng điện toàn hệ thống đạt 203,57 tỷ kWh
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong tháng 7/2026 đạt 32,03 tỷ kWh. Lũy kế 7 tháng đầu năm, sản lượng điện toàn hệ thống đạt 203,57 tỷ kWh.
Trong cơ cấu huy động nguồn điện 7 tháng, nhiệt điện than tiếp tục đóng vai trò chủ lực với 106,52 tỷ kWh, chiếm 52,3% tổng sản lượng. Thủy điện đạt 47,37 tỷ kWh, chiếm 23,3%; tua bin khí đạt 16,21 tỷ kWh, chiếm 8%.
Kiểm tra vận hành lưới truyền tải điện bằng công nghệ Flycam
Năng lượng tái tạo đạt 25,96 tỷ kWh, chiếm 12,8%, trong đó điện mặt trời đạt 16,89 tỷ kWh và điện gió đạt 8,06 tỷ kWh. Điện nhập khẩu đạt 7,21 tỷ kWh, chiếm 3,5%.
Cùng với nhiệm vụ cung ứng điện, EVN tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong dịch vụ khách hàng. Tập đoàn đang hoàn thiện các giải pháp kỹ thuật để cung cấp 100% dịch vụ điện trực tuyến toàn trình, kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Đến nay, 12/12 dịch vụ điện cấp độ 4 đã được EVN đưa lên môi trường trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. EVN cũng đang phối hợp với C12, Bộ Công an chuyển đổi sang Cổng mới, trong đó 4/12 dịch vụ đã được áp dụng chính thức, 8/12 dịch vụ đang kiểm thử.
Từ ngày 15/6/2026, ứng dụng EVN CSKH dùng chung được đưa vào vận hành, mở rộng kênh chăm sóc và tạo thuận lợi hơn cho khách hàng sử dụng điện.
Tháng 7 cũng ghi nhận diễn biến phức tạp của thiên tai. Bão số 1 (MAYSAK) đổ bộ Quảng Ninh đêm 4/7 và các đợt mưa lớn gây lũ quét, sạt lở đất tại Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Tuyên Quang… từ ngày 16/7 đã gây thiệt hại cho lưới điện phân phối, ảnh hưởng đến việc cấp điện tại một số khu vực.
Trong khi đó, lưới truyền tải 500kV và 220kV vẫn vận hành an toàn, không xảy ra sự cố. EVN và Tổng công ty Điện lực miền Bắc đã huy động nhân lực, phương tiện hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, nhanh chóng khôi phục cung cấp điện cho khách hàng, đồng thời bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý sự cố.
Tăng tốc đầu tư nguồn và lưới điện trọng điểm
Cùng với bảo đảm vận hành hệ thống, đầu tư xây dựng tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm của EVN nhằm tạo thêm dư địa cung ứng điện cho những năm tới.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, EVN và các đơn vị đã khởi công 98 công trình lưới điện, gồm 2 công trình 500kV, 13 công trình 220kV và 83 công trình 110kV; đồng thời đóng điện 100 công trình, gồm 5 công trình 500kV, 13 công trình 220kV và 82 công trình 110kV.
Công tác soi phát nhiệt kịp thời xử lý các khiếm khuyết tại TBA 500kV Vĩnh Yên
Đối với các dự án nguồn điện, Nhiệt điện Quảng Trạch I đang tiếp tục căn chỉnh thiết bị phục vụ chạy thử. Tổ máy số 2 đã hoàn thành quá trình thông thổi hơi, đặt mục tiêu hòa đồng bộ trong tháng 8/2026. EVN phấn đấu hoàn thành phát điện thương mại cả hai tổ máy trong năm 2026.
Dự án Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II đã hoàn thành công tác khảo sát, dự kiến hoàn thiện hồ sơ thiết kế kỹ thuật trong quý IV/2026.
Tại Dự án Thủy điện Trị An mở rộng, hạng mục đê quây kênh dẫn vào chống lũ đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng; công tác đào hố móng cửa nhận nước và nhà máy đã hoàn thành. Các hạng mục bê tông nhà máy, cửa nhận nước và gia cố mái kênh dẫn vào đang tiếp tục được triển khai.
Dự án Thủy điện tích năng Bác Ái cũng đang thi công đáp ứng tiến độ, trong đó một số hạng mục vượt kế hoạch.
Trong tháng 8, EVN tiếp tục đặt mục tiêu đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn, lưới điện trọng điểm. Bên cạnh Quảng Trạch I, Trị An mở rộng và Bác Ái, Tập đoàn yêu cầu thúc đẩy chuẩn bị đầu tư Dự án LNG Quảng Trạch III và cải tạo, nâng cấp hệ thống xử lý khí thải tại các nhà máy nhiệt điện.
Đối với lưới điện, EVN phấn đấu hoàn thành các dự án 220-110kV bảo đảm nguồn cấp điện và các công trình trung, hạ thế phục vụ Hội nghị APEC 2027; hoàn thành nhánh rẽ 220kV đấu nối Trạm biến áp 220kV Đại Mỗ; đẩy nhanh các xuất tuyến 110kV sau các trạm biến áp 220kV Vũ Thư, Dương Kinh, Phú Thọ 2, Yên Thủy, Thủy Nguyên. Đáng chú ý, EVN đặt mục tiêu hoàn thành đóng điện toàn bộ 305 MW hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) trong tháng 8/2026.
Chủ động trước nguy cơ phụ tải cực đại trong tháng 8
Theo EVN, tháng 8, miền Bắc bước vào mùa lũ chính vụ và đã qua giai đoạn mùa khô. Tuy nhiên, thực tế hai năm gần đây cho thấy nhu cầu phụ tải cực đại (Pmax) của miền Bắc đều xuất hiện trong tháng 8.
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 ở mức hai con số, EVN yêu cầu các đơn vị tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp bảo đảm cung ứng điện, đồng thời chủ động ứng phó thiên tai, mưa bão.
Công tác vận hành tại Nhà máy thuỷ điện Buôn Kuốp
Đối với các đơn vị thủy điện, yêu cầu đặt ra là thường xuyên cập nhật diễn biến thời tiết, thủy văn; tăng cường quan trắc, theo dõi an toàn đập, hồ chứa và hệ thống cảnh báo vùng hạ du; phối hợp chặt chẽ với Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) để sử dụng hài hòa, hiệu quả nguồn nước.
Các đơn vị nhiệt điện phải bảo đảm đủ nhiên liệu, vật tư thiết yếu phục vụ vận hành an toàn, ổn định và liên tục, kể cả trong tình huống thiên tai, mưa bão gây gián đoạn giao thông; tăng cường kiểm tra thiết bị và chủ động xử lý những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến khả dụng của các tổ máy.
Đối với Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT), nhiệm vụ trọng tâm là duy trì mức độ khả dụng cao nhất của đường dây, thiết bị và hệ thống rơle bảo vệ, đồng thời tiếp tục triển khai các giải pháp giảm thiểu sự cố.
Các tổng công ty, công ty điện lực được yêu cầu xây dựng phương án làm việc với khách hàng sử dụng điện lớn để chủ động dịch chuyển, điều chỉnh phụ tải khi xuất hiện tình huống cực đoan do nắng nóng gay gắt kéo dài.
EVN cũng yêu cầu các đơn vị phối hợp chặt chẽ với NSMO trong dự báo nhu cầu phụ tải, đánh giá tác động của điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và sự phát triển của xe điện; đồng thời đẩy mạnh tiết kiệm điện, sử dụng năng lượng hiệu quả, chuyển dịch phụ tải và sẵn sàng huy động nguồn diesel của khách hàng khi cần thiết.
Song song với các giải pháp từ phía hệ thống điện, EVN đề nghị người dân và khách hàng tiếp tục sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị có công suất lớn trong giờ cao điểm. Đây không chỉ là giải pháp góp phần giảm áp lực lên hệ thống điện trong những thời điểm phụ tải tăng cao mà còn giúp hạn chế nguy cơ sự cố và kiểm soát chi phí sử dụng điện của khách hàng.