Đóng

FDI tăng tốc, doanh nghiệp Việt chạy đua vào chuỗi cung ứng

Dòng vốn FDI tăng mạnh mở thêm cơ hội tham gia chuỗi cung ứng, song cũng đặt doanh nghiệp Việt trước yêu cầu nâng chuẩn công nghệ, năng lực sản xuất.

FDI tăng mạnh, cơ hội mở rộng

Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 8 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, số dự án mới chỉ tăng 9,4%, nhưng vốn đăng ký tăng tới 96,8%. Trong 8 tháng, Việt Nam cấp phép 2.771 dự án FDI mới với tổng vốn 21,72 tỷ USD. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với 12,15 tỷ USD, chiếm 55,9% tổng vốn đăng ký mới. Tiếp đến là sản xuất và phân phối điện, khí, nước và điều hòa với 3,13 tỷ USD.

Gian hàng Công ty CP Giải pháp tự động hóa ETEK tại Hanoi MIP Fair 2026.

Cùng với các dự án mới, 819 lượt dự án đang hoạt động đăng ký tăng thêm 12,21 tỷ USD, tăng 14,7%. Tính cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh, công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 20,18 tỷ USD, chiếm 59,5%. Không chỉ tăng về vốn đăng ký, vốn FDI thực hiện trong 8 tháng ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% và là mức cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm qua. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,24 tỷ USD, chiếm 82,6%. 

Đáng chú ý, diễn biến từ các dự án mới và mở rộng cho thấy dòng vốn ngoại đang tiếp tục hướng vào những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Cuối tháng 7/2026, Hải Phòng cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án tổ hợp sản xuất chất nền/đế mạch đóng gói bán dẫn của LG Innotek Việt Nam với tổng vốn 1 tỷ USD. Đây là cơ sở sản xuất chất nền bán dẫn đầu tiên của LG Innotek được xây dựng bên ngoài Hàn Quốc. Samsung cũng tiếp tục mở rộng hoạt động tại Việt Nam, trong đó có kế hoạch đầu tư khoảng 1,5 tỷ USD cho cơ sở kiểm thử chất bán dẫn tại Thái Nguyên. Các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử, thiết bị và sản xuất công nghệ cao cho thấy xu hướng các tập đoàn quốc tế tiếp tục đa dạng hóa địa điểm sản xuất và mở rộng chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân), cho rằng Việt Nam đang hưởng lợi từ quá trình chuẩn bị trong nhiều năm cho thu hút vốn FDI, cùng những chính sách mới trong đó có Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng dòng vốn. 

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, sức hút của Việt Nam đến từ nhiều yếu tố, trong đó có khả năng tiếp cận công nghệ và thị trường, nguồn lao động, môi trường đầu tư ngày càng thuận lợi và mức độ tham gia sâu hơn vào các quan hệ kinh tế quốc tế. Việc Việt Nam trở thành đối tác chiến lược của nhiều quốc gia cũng tạo thêm điều kiện cho dòng vốn đầu tư. Bên cạnh đó, việc bảo vệ công nghệ, bí quyết sản xuất và tài sản trí tuệ ngày càng được chú trọng cũng là yếu tố quan trọng đối với các nhà đầu tư công nghệ cao.

"Việt Nam có lợi thế khi đã hình thành hệ sinh thái FDI trong nhiều ngành như điện tử, máy tính, thiết bị, dệt may, da giày, cơ khí và chế biến, chế tạo. Khi một tập đoàn lớn đã xây dựng cơ sở sản xuất, việc mở rộng công suất hoặc thu hút thêm các nhà cung ứng sẽ thuận lợi hơn. Đặc biệt, các nhà đầu tư quy mô lớn không chỉ tính toán chi phí đất đai hay nhân công mà còn quan tâm đến khả năng vận hành ổn định trong dài hạn, từ điện, logistics, hạ tầng đến chính sách", ông Lạng chia sẻ.

Cơ hội lớn, yêu cầu cao với doanh nghiệp Việt

Đánh giá về triển vọng sản xuất tại Việt Nam, tại lễ khai mạc Tuần lễ Công nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2026 (VITW 2026) sáng 9/9, ông Christopher Hudson, Chủ tịch toàn cầu Tập đoàn DMG Events, cho rằng Việt Nam đang ở vị thế thuận lợi để hưởng lợi từ những xu hướng đang định hình lại công nghiệp toàn cầu. Khu vực sản xuất đóng góp khoảng 24,5% GDP, trong khi kim ngạch xuất khẩu công nghiệp chế tạo năm 2025 đạt hơn 421 tỷ USD, chiếm gần 89% tổng kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam có cơ hội trở thành một trong những trung tâm sản xuất tăng trưởng tại châu Á khi sản xuất ngày càng gắn với công nghệ và các ngành công nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Bán dẫn, pin, xe điện, tự động hóa, sản xuất thông minh, dược phẩm và thiết bị y tế được đánh giá là những lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển.

Từ góc độ doanh nghiệp, quá trình dịch chuyển và mở rộng sản xuất cũng đang tạo thêm nhu cầu đối với các nhà cung cấp công nghệ trong nước. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Bùi Trung Kiên, Giám đốc Kinh doanh Công ty CP Giải pháp tự động hóa ETEK, cho biết nhu cầu tự động hóa trong sản xuất tăng nhanh trong khoảng 6-7 năm trở lại đây. Nếu trước đây doanh nghiệp FDI là nhóm đầu tư mạnh cho lĩnh vực này thì hiện nay doanh nghiệp Việt Nam cũng ngày càng nhận thức rõ yêu cầu ứng dụng công nghệ để giải quyết bài toán thiếu lao động, tối ưu quy trình và nâng năng suất. “Doanh nghiệp Việt Nam bắt buộc phải đầu tư vào tự động hóa, công nghệ để tối ưu hóa, cải tiến và tăng năng suất cho các quy trình sản xuất”, ông Kiên cho biết.

Theo ông Kiên, yêu cầu tự động hóa đang mở rộng từ điện tử, gia công sang ô tô, may mặc, hàng tiêu dùng, thực phẩm và đồ uống. Doanh nghiệp chịu sức ép từ khách hàng về cải tiến, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc, đồng thời phải giải quyết bài toán thiếu lao động và nâng năng suất. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp công nghệ trong nước phát triển các giải pháp phù hợp với từng ngành. Robot, hệ thống vận chuyển tự động, dây chuyền lắp ráp, công nghệ vision kiểm tra ngoại quan hay hệ thống AGV đang được ứng dụng ngày càng rộng. “Quan trọng là phải hiểu bài toán nghiệp vụ của khách hàng. Từ đó, chúng tôi lựa chọn công nghệ phù hợp với mô hình, quy trình sản xuất và ngân sách của khách hàng”, ông Kiên chia sẻ.

Tuy nhiên, dòng vốn FDI chỉ có thể tạo tác động lan tỏa mạnh hơn khi doanh nghiệp Việt nâng được năng lực cung ứng. Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, nếu doanh nghiệp FDI vẫn phải nhập khẩu phần lớn linh kiện, nguyên liệu và dịch vụ đầu vào, giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế sẽ hạn chế. “Thu hút FDI và phát triển doanh nghiệp Việt cần được đặt trong cùng một bài toán. Muốn vốn FDI lan tỏa nhanh, vững bền nhất thì phải nâng năng lực doanh nghiệp Việt trước tiên”, ông Lạng nhấn mạnh.

Theo chuyên gia, để trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp Việt phải đáp ứng đồng thời yêu cầu về tiêu chuẩn, sản lượng, giá thành, thời gian giao hàng và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như đổi mới máy móc, đào tạo quản trị, nghiên cứu và phát triển (R&D), nâng chuẩn nhà cung ứng và kết nối trực tiếp với bộ phận mua hàng của các tập đoàn FDI. Một hướng khác là xây dựng cơ chế kết nối dựa trên dữ liệu, phân loại doanh nghiệp Việt theo năng lực cung ứng, sản phẩm, công suất và tiêu chuẩn. Từ đó, cơ quan xúc tiến và các tập đoàn FDI có thể tìm kiếm nhà cung ứng phù hợp thay vì kết nối theo cách dàn trải.

Ở cấp doanh nghiệp, ông Bùi Trung Kiên cho rằng cần thêm các chương trình hỗ trợ đánh giá năng lực, tín dụng và nguồn vốn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ. Đầu tư tự động hóa đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi doanh nghiệp cần thời gian để đánh giá hiệu quả. Nhà nước, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp sản xuất có thể cùng tham gia những chương trình hỗ trợ ban đầu. Khi hiệu quả đầu tư được chứng minh, doanh nghiệp sẽ chủ động tiếp tục đầu tư bằng nguồn lực của mình.

Dòng vốn FDI tăng mạnh đang mở thêm cơ hội để Việt Nam nâng vị trí trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, khả năng biến dòng vốn ngoại thành động lực lan tỏa rộng hơn sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực của doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp Việt nâng được năng lực công nghệ, tiêu chuẩn và khả năng cung ứng, sự hiện diện của các tập đoàn quốc tế sẽ không chỉ dừng ở những nhà máy FDI mà có thể kéo theo một hệ sinh thái nhà cung ứng nội địa cùng phát triển.

Nguyễn Hạnh