14 năm với 21 phiên đàm phán
EFTA gồm bốn thành viên là Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein. Hành trình đi đến đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và các nước EFTA bắt đầu từ tháng 5/2010, khi Việt Nam và khối EFTA ký Biên bản ghi nhớ thành lập Nhóm nghiên cứu hỗn hợp. Từ những nghiên cứu ban đầu về khả năng xây dựng một hiệp định thương mại tự do, hai năm sau, tháng 4/2012, Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì đàm phán với bốn quốc gia EFTA gồm Na Uy, Thụy Sĩ, Iceland và Liechtenstein. Phiên đàm phán đầu tiên diễn ra tại Hà Nội từ ngày 22 đến 25/5/2012, mở ra một chặng đường dài với nhiều nội dung phức tạp, từ thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, quy tắc xuất xứ, sở hữu trí tuệ đến phát triển bền vững và hợp tác kỹ thuật.
Có những thời điểm tiến trình đàm phán bị gián đoạn. Có những vấn đề phải dành nhiều năm để tìm tiếng nói chung. Đến ngày 8/9/2025, các cuộc đàm phán được nối lại tại Geneva. Từ đây, hai bên bước vào 5 phiên đàm phán liên tiếp nhằm xử lý những nội dung cuối cùng của một hiệp định toàn diện, hiện đại và có tiêu chuẩn cao.
Ngày 18/10, Việt Nam sẽ cùng các nước Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) ký hiệp định thương mại tự do, khép lại hành trình 14 năm với 21 vòng đàm phán.
Điểm kết của hành trình đàm phán là Hội nghị Bộ trưởng các nước EFTA diễn ra vào 2/7/2026 tại Iceland. Tại đây, lãnh đạo Bộ Công Thương làm trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam trao đổi những vấn đề cuối cùng để hoàn tất các nội dung đàm phán.
Mười bốn năm với 16 vòng đàm phán chính thức cùng 5 vòng đàm phán kỹ thuật là minh chứng cho sự kiên trì trong cách tiếp cận hội nhập của Việt Nam, không chạy theo tốc độ, càng không đánh đổi lợi ích cốt lõi để sớm đi đến đích, mà bền bỉ tìm kiếm sự cân bằng nhằm tạo dựng một khuôn khổ hợp tác lâu dài và bền vững.
Ngày 18/10, theo kế hoạch, Việt Nam sẽ cùng các nước Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) ký hiệp định thương mại tự do. Đây là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, toàn diện và có mức độ cam kết cao.
Theo nội dung hiệp định, đối với hàng công nghiệp và thủy sản, các nước EFTA cam kết tiếp tục duy trì việc xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm có xuất xứ từ Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Về phía Việt Nam, phần lớn thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp và thủy sản từ EFTA sẽ được cắt giảm và xóa bỏ trong thời hạn tối đa 11 năm. Hàng Việt Nam nhập từ khối này chủ yếu phục vụ sản xuất trong nước, gồm máy móc thiết bị, sản phẩm điện cơ khí, hóa chất, nguyên liệu thủy sản và dược phẩm, nghĩa là việc giảm thuế nhập khẩu cũng đồng thời hạ chi phí đầu vào cho doanh nghiệp sản xuất.
Đối với nông sản, các bên áp dụng lộ trình mở cửa phù hợp với lợi ích thương mại và mức độ nhạy cảm của từng nước. Một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực của EFTA như phô mai, cà phê, sô-cô-la, thực phẩm cho trẻ em và thực phẩm bổ sung sẽ được hưởng thuế suất 0% khi vào thị trường Việt Nam theo lộ trình tối đa 16 năm. Đồng thời, EFTA cũng dành cho Việt Nam các ưu đãi tương đương với các FTA gần đây mà khối đã ký kết.
Phạm vi của hiệp định bao gồm 14 nội dung chính: thương mại hàng hóa; quy tắc xuất xứ; tạo thuận lợi thương mại; thương mại và dịch vụ; phòng vệ thương mại; các biện pháp SPS và TBT; đầu tư; quyền sở hữu trí tuệ; mua sắm chính phủ; cạnh tranh; thương mại và phát triển bền vững; doanh nghiệp nhỏ và vừa; hợp tác và xây dựng năng lực; thể chế và giải quyết tranh chấp.
Với doanh nghiệp, hai nhóm nội dung đáng lưu tâm nhất trong khâu chuẩn bị là quy tắc xuất xứ và các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch thực vật, bởi đây là điều kiện thực tế quyết định hàng hóa có được hưởng ưu đãi thuế hay không.
Với quy tắc xuất xứ, hiệp định quy định hệ thống quy tắc xuất xứ toàn diện nhằm bảo đảm hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan thực sự có nguồn gốc từ các bên tham gia. Một điểm đáng chú ý là cơ chế cộng gộp xuất xứ giữa các nước thành viên EFTA và Việt Nam, đồng thời cho phép cộng gộp mở rộng đối với nguyên liệu phi nông nghiệp có xuất xứ từ các nước ASEAN hoặc EU nếu có hiệp định thương mại ưu đãi với EFTA. Hiệp định cũng quy định rõ tiêu chí xuất xứ theo từng nhóm hàng, phương thức chứng nhận xuất xứ và các quy định về gia công, chế biến.
Về phòng vệ thương mại, hiệp định tái khẳng định quyền và nghĩa vụ của các bên theo các hiệp định của WTO về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Đồng thời, các bên cam kết tăng cường minh bạch, tham vấn trước khi áp dụng các biện pháp phòng vệ và hướng tới hạn chế sử dụng biện pháp chống bán phá giá giữa các bên. Ngoài ra, Hiệp định cũng thiết lập cơ chế tự vệ song phương nhằm xử lý trường hợp hàng nhập khẩu gia tăng gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
Mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư, công nghệ giữa Việt Nam - EFTA
Trước thềm lễ ký kết Hiệp định FTA giữa Việt Nam - EFTA, chia sẻ với báo chí, Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Stein Iversen cho biết, hiệp định không chỉ mở rộng cơ hội thương mại mà còn tạo khuôn khổ pháp lý ổn định, minh bạch và có thể dự đoán cho hoạt động kinh doanh, gửi đi thông điệp ủng hộ thương mại tự do dựa trên luật lệ quốc tế, củng cố lòng tin và giảm thiểu những bất định trong bối cảnh thương mại toàn cầu chịu tác động lớn từ cạnh tranh địa chính trị.
Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Stein Iversen chia sẻ về các ngành hàng được hưởng lợi khi FTA giữa Việt Nam - EFTA được ký kết.
Trong số các ngành hàng sẽ được hưởng lợi từ hiệp định, Đại sứ Stein Iversen cho rằng thủy sản là một trong những lĩnh vực hưởng lợi rõ nét nhất. Việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường Việt Nam sẽ giúp thủy sản Na Uy, đặc biệt là cá hồi, tăng cường đáng kể sức cạnh tranh. Cùng với hợp tác thương mại, thu hút đầu tư chất lượng cao và tăng cường hàm lượng công nghệ trong nền kinh tế là những dư địa hợp tác nổi bật mà FTA giữa Việt Nam và EFTA mang lại.
Trong khi đó, Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam Thomas Gass cũng chia sẻ, hiệp định thiết lập khuôn khổ hợp tác thương mại và đầu tư hiện đại, góp phần tăng cường quan hệ kinh tế giữa EFTA và Việt Nam. Theo Đại sứ, Hiệp định hướng tới cải thiện khả năng tiếp cận thị trường, giảm rào cản thương mại, nâng cao tính chắc chắn về mặt pháp lý cho doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng bền vững, bao trùm.
Đại sứ Thomas Gass cũng nhìn nhận, FTA giữa EFTA - Việt Nam được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa Việt Nam và các nước EFTA. Hiệp định cũng sẽ tạo thuận lợi cho việc thu hút đầu tư vào các lĩnh vực như dược phẩm, kỹ thuật cơ khí chính xác, máy móc, công nghệ sạch và thực phẩm chất lượng cao, đồng thời hỗ trợ Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về nghĩa của hiệp định, bà Nguyễn Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại Việt Nam, Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia cho biết, FTA giữa Việt Nam - EFTA vượt ra ngoài một hiệp định cắt giảm thuế quan. Đây là thông điệp khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên định với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa đối tác và nâng cao chất lượng quan hệ thương mại với các nền kinh tế phát triển.
Theo bà Nguyễn Hoàng Thúy, với FTA giữa Việt Nam - EFTA, điều doanh nghiệp cần nhìn thấy không chỉ là cơ hội gia tăng xuất khẩu mà còn là cơ hội nâng cấp chính mình. Thị trường EFTA đặt ra những tiêu chuẩn rất cao, nhưng cũng chính những tiêu chuẩn ấy phù hợp với định hướng phát triển mới của Việt Nam là nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng tăng trưởng và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng bền vững.
Bà Nguyễn Hoàng Thúy cho rằng, với FTA giữa Việt Nam - EFTA, doanh nghiệp cần ghi nhớ ba từ khóa: chuẩn hóa, minh bạch và kiên trì. Chuẩn hóa từ sản phẩm đến quy trình, hồ sơ và hợp đồng; minh bạch về nguồn gốc, nguyên liệu, tiêu chuẩn, phát thải, lao động và trách nhiệm xã hội; kiên trì xây dựng uy tín, quan hệ hợp tác lâu dài thay vì kỳ vọng những kết quả tức thời.
Những năm qua, thương mại giữa EFTA và Việt Nam đã tăng trưởng ổn định. Năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 4,8 tỷ EUR, trong đó Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại 2,5 tỷ EUR, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của quan hệ hợp tác này. Hiệp định được kỳ vọng sẽ mở ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhà đầu tư và người tiêu dùng, đồng thời góp phần củng cố chuỗi cung ứng và khuyến khích đổi mới sáng tạo.