Sau chuỗi 5 phiên tăng liên tiếp, đóng cửa ngày hôm qua (11/8), chỉ số MXV-Index quay đầu giảm 0,16% xuống còn 2.813 điểm. Lực bán mạnh trên thị trường nông sản và nguyên liệu công nghiệp đã kéo toàn thị trường đóng cửa về đà suy yếu.
Chỉ số MXV-Index
Thị trường cà phê tiếp tục phân hóa
Trên thị trường nguyên liệu công nghiệp, hai mặt hàng cà phê diễn biến trái chiều trong phiên hôm qua. Giá cà phê Robusta chịu áp lực điều chỉnh do nguồn cung từ Việt Nam dồi dào, trong khi giá cà phê Arabica tăng lên mức cao nhất trong 5 tuần do lo ngại khả năng gián đoạn nguồn cung tại Colombia.
Trên thị trường kỳ hạn, hợp đồng cà phê Robusta giao tháng 9 giảm 0,63%, xuống còn 3.782 USD/tấn. Ngược lại, giá cà phê Arabica giao tháng 9 tăng hơn 1%, lên 7.402 USD/tấn.
Diễn biến giá cà phê kỳ hạn tháng 9
Đối với Robusta, nguồn cung từ Việt Nam tiếp tục gây sức ép lên giá. Lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 7 tăng 45% so với tháng 7/2025, đạt gần 148.000 tấn. Qua đó, tổng lượng xuất khẩu trong 10 tháng đầu niên vụ 2025-2026, tính từ tháng 10/2025, đạt 1,54 triệu tấn, tăng 26,3% so với cùng kỳ niên vụ trước.
Diễn biến tồn kho trên Sở ICE cũng cho thấy sự phân hóa giữa hai mặt hàng. Tính đến phiên thứ 3, tồn kho Robusta tăng lên mức cao nhất trong gần 5 tháng, đạt hơn 4.350 lô, tương đương 43.520 tấn. Trong khi đó, tồn kho Arabica tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong 2 năm rưỡi, chỉ còn 241.840 bao.
Giá cà phê Arabica tăng lên mức cao nhất trong 5 tuần do lo ngại khả năng gián đoạn nguồn cung tại Colombia.
Đối với cà phê Arabica, giá tăng trong bối cảnh thị trường lo ngại trận động đất mạnh 7,4 độ xảy ra tại Colombia hôm thứ Hai có thể ảnh hưởng đến nguồn cung từ quốc gia sản xuất Arabica lớn thứ hai thế giới. Các tỉnh trồng cà phê trọng điểm như Caldas và Risaralda - đóng góp khoảng 1/4 tổng sản lượng cà phê của Colombia lại nằm trong số những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề do trận động đất.
Tình hình càng trở nên căng thẳng khi hãng vận tải biển Maersk cho biết cảng Buenaventura, đầu mối xuất khẩu cà phê lớn của Colombia, đã phải tạm dừng hoạt động. Bên cạnh đó, việc phong tỏa một số tuyến đường và hạn chế giao thông sau động đất cũng được cảnh báo có thể ảnh hưởng đến hoạt động vận chuyển hàng hóa.
Bên cạnh diễn biến tại Colombia, giá cà phê Arabica tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ tình hình xuất khẩu kém tích cực của Brazil. Theo Hội đồng các nhà xuất khẩu cà phê Brazil (Cecafé), lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 7 đạt hơn 3 triệu bao loại 60 kg, tính chung tất cả các loại, tăng 9,9% so với cùng kỳ niên vụ trước, nhưng vẫn thấp hơn kỳ vọng. Mưa lớn tại các vùng trồng cà phê trọng điểm đã làm chậm tiến độ thu hoạch Arabica, ảnh hưởng đến nguồn cung xuất khẩu. Trong khi đó, tình trạng hạ tầng tại các cảng biển chính tiếp tục gây ách tắc, làm chậm quá trình đưa hàng lên tàu.
Xuất khẩu cà phê Brazil
Trong nước, niên vụ cà phê 2026-2027 của Việt Nam sẽ chính thức bắt đầu từ tháng 10, nhưng cà phê từ vụ thu hoạch mới dự kiến phải đến tháng 11 mới được đưa ra thị trường. Một số doanh nghiệp cho biết thời tiết tại Tây Nguyên đang diễn biến đan xen, khi một số khu vực xuất hiện khô hạn đúng vào giai đoạn cây cà phê cần đủ nước để quả tiếp tục lớn và chín.
Số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam cho thấy, hoạt động xuất khẩu trong tháng 7 vừa qua đã có sự tăng trưởng mạnh. Cụ thể, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 2,46 triệu bao, tăng 43,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng đầu niên vụ 2025/26, tổng lượng xuất khẩu đạt 26,34 triệu bao, tăng trưởng 23,9%. Động lực chính thúc đẩy sự gia tăng này đến từ thị trường Liên minh châu Âu (EU). Các doanh nghiệp tại Đức, Italy và Tây Ban Nha đang đẩy mạnh việc nhập khẩu cà phê Việt Nam nhằm tích trữ trước khi Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) chính thức có hiệu lực vào cuối năm nay. Ngoài ra, các thị trường mới nổi như Trung Quốc cũng ghi nhận sức mua ổn định đối với các sản phẩm cà phê từ Việt Nam.
Mặc dù có những tín hiệu tích cực về con số xuất khẩu, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) vẫn đưa ra những cảnh báo thận trọng. Thị trường toàn cầu đang chuyển dịch sang giai đoạn cung vượt cầu với dự báo sản lượng niên vụ 2025/26 có thể đạt 180 triệu bao, tăng 8 triệu bao so với niên vụ trước.
Theo các báo cáo từ Trading Economics và Comunicaffe, mặc dù Brazil - quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới - dự kiến sẽ đạt mức thu hoạch kỷ lục hơn 70 triệu bao trong mùa này, nhưng sự cân bằng giữa cung và cầu vẫn ở trạng thái hết sức mong manh. Nguyên nhân chính dẫn đến sự bất ổn này là yếu tố chất lượng. Những cơn mưa bất thường vào tháng 6 và tháng 7 tại các vùng trồng trọng điểm của Brazil như Minas Gerais và São Paulo đã làm dấy lên lo ngại về việc suy giảm chất lượng hạt cà phê thành phẩm. Bên cạnh đó, hiện tượng El Niño "siêu mạnh" đang hình thành được xem là rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với vụ thu hoạch tiếp theo, khiến các nhà giao dịch và sản xuất tại Brazil có xu hướng hạn chế bán ra để chờ đợi các tín hiệu rõ ràng hơn từ thị trường.
Giá lúa mì đồng loạt cùng trước thềm báo cáo WASDE
Theo ghi nhận của Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), đóng cửa phiên giao dịch hôm qua, thị trường nông sản thế giới đồng loạt đi xuống khi 7 mặt hàng giảm giá. Lúa mì là nhóm giảm mạnh nhất, với giá lúa mì Chicago đánh mất 1,6% xuống 231,5 USD/tấn; Kansas giảm 2% xuống 256,9 USD/tấn.
Chỉ số MXV-Index nông sản đứng ở mức 1.448 điểm, trong đó các mặt hàng lúa mì chiếm 20% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường.
Diễn biến giá lúa mì CBOT
Bên cạnh yếu tố nguồn cung, hoạt động điều chỉnh vị thế của giới đầu cơ trước thềm báo cáo Cung - Cầu nông nghiệp thế giới (WASDE) của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cũng gây thêm áp lực lên giá trong ngắn hạn.
Tại Mỹ, tiến độ thu hoạch lúa mì vụ đông đã bước vào giai đoạn cuối. Theo báo cáo tiến độ mùa vụ của USDA, tính đến thời điểm công bố, hoạt động thu hoạch đã hoàn thành 91% diện tích, tương đương mức trung bình 5 năm. Trong khi đó, gieo trồng lúa mì vụ xuân đạt 24% diện tích, cao hơn mức trung bình 5 năm là 19%. Xếp hạng chất lượng lúa mì vụ xuân giảm nhẹ do thời tiết nắng nóng, nhưng mức xếp hạng tổng thể vẫn cao hơn đáng kể so với trung bình nhiều năm.
Tại khu vực Biển Đen, tiến độ thu hoạch cũng đang diễn ra nhanh. Tính đến ngày 10/8/2026, Nga đã thu hoạch hơn 60 triệu tấn lúa mì trên diện tích 14,8 triệu ha, tăng khoảng 6 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Tại Ukraine, tính đến ngày 11/8, sản lượng ngũ cốc thu hoạch đạt 26,13 triệu tấn trên diện tích 4,9 triệu ha, trong đó năng suất tại một số vùng trọng điểm như Khmelnytskyi đạt gần 7 tấn/ha.
Dù công ty tư vấn IKAR vừa hạ dự báo sản lượng lúa mì năm 2026 của Nga xuống 90 triệu tấn và xuất khẩu xuống 44,5 triệu tấn, mức dự báo này vẫn thấp hơn con số 47,5 triệu tấn xuất khẩu mà USDA đưa ra. Sự khác biệt giữa các dự báo khiến thị trường tiếp tục theo dõi sát triển vọng nguồn cung và xuất khẩu của Nga.
Giá xuất khẩu tại khu vực Biển Đen cũng đang tạo sức ép lên lúa mì Mỹ. Đầu tháng 8, giá lúa mì Nga loại 12,5% protein, giao FOB tại Novorossiysk, giảm xuống 225 USD/tấn, trong khi lúa mì Ukraine loại 11,5% protein giảm xuống 222 USD/tấn. So với mức 269 USD/tấn của lúa mì Mỹ và 262 USD/tấn của lúa mì Pháp, chênh lệch giá từ 37-47 USD/tấn đang làm gia tăng sức cạnh tranh của nguồn cung Biển Đen trên thị trường xuất khẩu.
Trong tháng 8, hoạt động xuất khẩu của Nga gặp thêm một số hạn chế do việc lưu thông qua eo biển Kerch, trong khi Ukraine đối mặt nguy cơ thiếu khoảng 11 triệu tấn sức chứa tại các kho cảng. Trong bối cảnh đó, giá bán tại khu vực Biển Đen tiếp tục chịu sức ép khi nguồn cung bước vào giai đoạn thu hoạch cao điểm. Cùng lúc, xuất khẩu lúa mì mềm lũy kế của Liên minh châu Âu (EU) tính đến đầu tháng 8/2026 giảm 57% so với cùng kỳ, xuống còn hơn 1 triệu tấn.
Top 5 quốc gia có sản lượng lúa mì lớn
Trước thềm báo cáo WASDE được USDA công bố vào 11 giờ tối nay theo giờ Việt Nam, các quỹ đầu tư và nhóm đầu cơ đang chủ động điều chỉnh, tất toán một phần vị thế để giảm rủi ro. Hoạt động này tiếp tục tạo áp lực lên giá lúa mì trong ngắn hạn, trong bối cảnh thị trường chờ thêm thông tin về cân đối cung - cầu toàn cầu.
Tại thị trường nội địa, số liệu thống kê sơ bộ từ Cục Hải quan cho thấy nhập khẩu lúa mì trong tháng 7/2026 giảm mạnh so với tháng trước, đạt hơn 247.000 tấn, với kim ngạch 71,3 triệu USD. Lượng nhập khẩu giảm 51,3%, trong khi trị giá giảm 49,3%.
Tuy nhiên, tính chung 7 tháng đầu năm nay, lượng lúa mì nhập khẩu vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025, đạt 5,1 triệu tấn, tăng 52,2%; trị giá đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng 56,3%. Giá nhập khẩu bình quân ở mức 260,5 USD/tấn.
Nhập khẩu lúa mì tháng 7/2026
Theo bà Đào Thị Linh, Trưởng phòng Tư vấn Đầu tư Công ty Cổ phần Giao dịch Hàng hóa Thành phố Hồ Chí Minh (HCT) - Thành viên Kinh doanh số 012 của MXV, thị trường lúa mì CBOT hiện tập trung vào Báo cáo Cung - cầu nông sản thế giới (WASDE) tháng 8, dự kiến được USDA công bố lúc 23h tối nay. Đây là báo cáo quan trọng khi USDA sẽ cập nhật các dữ liệu mới về năng suất và sản lượng vụ mùa 2026 - 2027 của Mỹ, trong bối cảnh triển vọng nguồn cung tại một số khu vực sản xuất lớn đang có những thay đổi.
Ngoài Mỹ, thời tiết bất lợi tại châu Âu và những rủi ro đối với hoạt động xuất khẩu tại khu vực Biển Đen cũng là những yếu tố cần theo dõi. Trong khi đó, nhu cầu đối với lúa mì Mỹ vẫn chưa thực sự mạnh khi xuất khẩu đầu niên vụ 2026 - 2027 thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ. “WASDE tháng 8 sẽ là yếu tố quyết định hướng đi của lúa mì trong ngắn hạn. Nếu USDA tiếp tục hạ dự báo sản lượng hoặc tồn kho, trong khi các rủi ro nguồn cung tại châu Âu và Biển Đen gia tăng, thị trường sẽ có thêm động lực phục hồi. Ngược lại, nguồn cung cao hơn kỳ vọng cùng nhu cầu xuất khẩu yếu có thể khiến áp lực vẫn duy trì,” bà Linh nhận định.