Đóng

Giá gạo thế giới ‘ấm’ lên, vì sao gạo Việt Nam chưa hưởng lợi?

Giá gạo thế giới phục hồi, nhu cầu Philippines tăng, nhưng xuất khẩu gạo Việt Nam 8 tháng năm 2026 vẫn giảm cả lượng và giá trị.

Giá thế giới tăng, xuất khẩu gạo Việt vẫn đi xuống

Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), chỉ số Gạo Trắng Oryza (WRI), phản ánh giá bình quân gia quyền gạo trắng xuất khẩu toàn cầu, kết thúc tuần đầu tháng 9/2026 ở mức 450 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với tuần trước, 13 USD/tấn so với tháng trước và cao hơn 37 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2025. 

Lũy kế đến ngày 31/8, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 6,029 triệu tấn, trị giá khoảng 2,9 tỷ USD.

Giá gạo đang giao dịch gần mức cao nhất trong hai năm, trong bối cảnh lượng mưa tại một số khu vực thấp hơn bình thường, hiện tượng El Niño được dự báo tiếp tục mạnh lên, trong khi chi phí phân bón và nhiên liệu gia tăng. Những yếu tố này làm gia tăng rủi ro đối với sản lượng tại các nước sản xuất lớn ở châu Á, khu vực chiếm phần lớn sản lượng và xuất khẩu gạo toàn cầu. Theo các đánh giá thị trường, El Niño kết hợp với IOD tích cực có thể khiến sản lượng gạo tại Đông Nam Á giảm khoảng 2-8%.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là đà phục hồi của giá gạo thế giới chưa chuyển hóa rõ nét vào kết quả xuất khẩu của Việt Nam. Trong tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu 538.856 tấn gạo, trị giá 279,633 triệu USD. Lũy kế đến ngày 31/8, lượng gạo xuất khẩu đạt 6,029 triệu tấn, trị giá khoảng 2,9 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 5,12%, trong khi trị giá giảm tới 10,82%.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu gạo cả năm 2026 dự kiến đạt khoảng 3,94 tỷ USD, giảm 4% so với năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là mặt bằng giá xuất khẩu thấp trong những tháng đầu năm. Đà phục hồi giá từ tháng 7 được kỳ vọng góp phần cải thiện kim ngạch trong những tháng cuối năm.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Phước Thành IV (Vĩnh Long), cho rằng về sản lượng, xuất khẩu gạo năm nay vẫn có thể đạt mục tiêu. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu khó tăng trưởng mạnh do giá gạo những tháng đầu năm ở mức thấp và tiếp tục chịu sức ép trong một thời gian của vụ Hè Thu. “Từ nay đến cuối năm, nếu có thêm các đơn hàng mới, đặc biệt khi giá xuất khẩu được cải thiện, tình hình có thể khả quan hơn”, ông Thành nhận định.

Theo ông Thành, Việt Nam đang đa dạng hóa các dòng sản phẩm như gạo nếp, Japonica, T25 và mở rộng sang một số thị trường mới. Những phân khúc này có thể góp phần bù đắp phần sụt giảm của nhóm gạo trắng truyền thống. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải chủ động hơn về thị trường, trong khi nông dân cần được định hướng sản xuất phù hợp với nhu cầu thực tế. Khi cung - cầu được cân đối và doanh nghiệp có đủ vốn thu mua, giá lúa gạo mới có điều kiện phục hồi.

Philippines mở cửa, nhưng cạnh tranh không giảm

Một trong những yếu tố được kỳ vọng tạo lực đẩy cho thị trường gạo những tháng cuối năm là nhu cầu nhập khẩu của Philippines. Nước này được dự báo nhập khẩu khoảng 5 triệu tấn gạo trong năm 2026, mức cao kỷ lục, nhằm bù đắp sản lượng trong nước suy giảm do El Niño và tăng dự trữ cho đầu năm 2027. Đến ngày 13/8, Philippines đã nhập khẩu khoảng 3,46 triệu tấn gạo, vượt tổng lượng nhập khẩu của cả năm 2025.

Đáng chú ý, Việt Nam chiếm khoảng 74% nguồn cung gạo nhập khẩu của thị trường Philippines. Đây rõ ràng là lợi thế đáng kể đối với gạo Việt Nam. Vị trí địa lý thuận lợi, nguồn cung ổn định và quan hệ thương mại sẵn có giúp doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tiếp cận nhanh với thị trường này khi nhu cầu tăng. Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp xuất khẩu, nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines không đồng nghĩa Việt Nam có thể dễ dàng gia tăng giá trị xuất khẩu.

Thứ nhất, Philippines vừa tăng nhập khẩu trong ngắn hạn, vừa đầu tư mạnh để giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài trong dài hạn. Chính phủ nước này đang đề xuất ngân sách 69,9 tỷ peso, tương đương khoảng 1,15 tỷ USD, cho ba chương trình lớn về lúa gạo trong ngân sách quốc gia năm 2027. Nguồn vốn dự kiến tập trung vào giống, vật tư nông nghiệp, máy móc, thủy lợi, tín dụng, đào tạo, công nghệ và phân phối. Mục tiêu là tăng sản lượng, nâng thu nhập cho nông dân và bảo đảm người tiêu dùng tiếp cận gạo với giá phù hợp.

Thứ hai, cạnh tranh trên thị trường khu vực vẫn rất lớn. Ấn Độ tiếp tục giữ lợi thế nhờ nguồn cung dồi dào và giá cạnh tranh. Trong tuần đầu tháng 9, giá gạo tấm 5% của Ấn Độ khoảng 371 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn so với tuần trước. Dù sản lượng gạo xay xát niên vụ 2026/27 dự kiến giảm 4,5%, xuống 147 triệu tấn, tồn kho Chính phủ ở mức cao vẫn giúp nguồn cung duy trì dồi dào. Xuất khẩu gạo niên vụ này được dự báo đạt khoảng 25 triệu tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm khoảng 476 USD/tấn, tăng 9 USD/tấn so với tuần trước, 24 USD/tấn so với tháng trước và khoảng 121 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước. Pakistan cũng ghi nhận giá gạo tấm 5% khoảng 415 USD/tấn, tăng 66 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2025.

Đáng chú ý hơn, Indonesia đang bắt đầu trở lại thị trường gạo quốc tế. Nước này hiện chưa có kế hoạch nhập khẩu gạo trong năm 2026 nhờ sản lượng trong nước và lượng dự trữ Chính phủ ở mức cao. Tính đến ngày 21/8, dự trữ gạo đạt khoảng 5,17 triệu tấn. Indonesia đã đạt thỏa thuận ban đầu xuất khẩu 1.000 tấn gạo chất lượng cao sang Malaysia, với khả năng tăng lên 200.000 tấn/năm. Sản lượng gạo năm 2026 của Indonesia dự kiến đạt khoảng 38,6 triệu tấn, trong khi dự trữ quốc gia khoảng 5,2 triệu tấn. Nước này cũng thúc đẩy sử dụng các giống lúa năng suất cao, có khả năng đạt 10-13 tấn/ha, đồng thời dự kiến trợ cấp giống cải tiến cho ít nhất 1 triệu ha vào năm 2027. Nếu được triển khai hiệu quả, đây có thể là yếu tố làm thay đổi tương quan cung ứng trên thị trường gạo Đông Nam Á trong những năm tới.

Ở chiều khác, nguồn cung toàn cầu vẫn ở mức cao khiến người mua có nhiều lựa chọn. Theo dự báo của FAO, sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2026/27 có thể giảm 1,9%, xuống 553,1 triệu tấn, chủ yếu do biên lợi nhuận của người sản xuất giảm và thời tiết bất lợi liên quan đến El Niño. Tuy nhiên, nguồn cung toàn cầu vẫn được đánh giá tương đối dồi dào, với tổng nguồn cung dự kiến đạt 774,3 triệu tấn, mức sử dụng 559 triệu tấn và tồn kho cuối kỳ 215,1 triệu tấn. Tỷ lệ tồn kho so với sử dụng được dự báo ở mức 38%. 

Vấn đề đặt ra với doanh nghiệp Việt Nam trong những tháng cuối năm không chỉ là bán được nhiều gạo hơn, mà là bán vào đúng thị trường, đúng phân khúc và với giá trị gia tăng cao hơn. Việc đa dạng hóa sản phẩm như gạo nếp, Japonica, T25 và các dòng gạo chất lượng cao có thể mở thêm dư địa, thay vì phụ thuộc quá lớn vào gạo trắng phổ thông. Song song với đó, doanh nghiệp cần chủ động nguồn vốn và vùng nguyên liệu để tận dụng thời điểm nhu cầu tăng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng khuyến nghị doanh nghiệp theo dõi sát diễn biến cung - cầu toàn cầu, chính sách nhập khẩu của các thị trường trọng điểm và tình hình thời tiết tại các quốc gia sản xuất lớn. Cùng với đó là chủ động điều tiết sản xuất, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa thị trường.

Nguyễn Hạnh