Đóng

Giá lúa mì tăng mạnh trước áp lực nguồn cung

Giá lúa mì tăng mạnh trước lo ngại nguồn cung toàn cầu thắt chặt khi bất ổn tại Biển Đen, thời tiết bất lợi và triển vọng sản lượng giảm tiếp tục hỗ trợ thị trường.

Sắc xanh tiếp tục bao phủ lên thị trường hàng hóa nguyên liệu trong phiên giao dịch ngày hôm qua (15/7). Đóng cửa, chỉ số MXV-Index tăng gần 0,3% lên 2.733 điểm. Nông sản dẫn dắt đà tăng của toàn thị trường khi cả hai mặt hàng lúa mì đang dao động trên vùng giá cao mới.

Chỉ số MXV-Index.

Giá lúa mì lên mức cao nhất hai tháng

Theo ghi nhận của Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), chỉ số MXV-Index Nông sản tiếp tục tăng, đóng cửa tại 1.507 điểm. Hoạt động giao dịch duy trì ổn định, trong đó đậu tương và lúa mì là hai mặt hàng có thanh khoản đáng chú ý.

Kết thúc phiên giao dịch, giá lúa mì Chicago tăng hơn 5% lên 249 USD/tấn, trong khi giá lúa mì Kansas tăng 6,2%, đạt 264,56 USD/tấn - mức cao nhất trong vòng hai tháng.

Theo MXV, diễn biến của giá lúa mì trong phiên chịu tác động đồng thời từ những lo ngại về hoạt động cung ứng tại khu vực Biển Đen, điều kiện thời tiết bất lợi tại một số vùng sản xuất lớn và các số liệu mới liên quan đến triển vọng cung - cầu trên thị trường thế giới.

Tại khu vực Biển Đen và Biển Azov, những bất ổn về an ninh tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động vận tải và xuất khẩu ngũ cốc. Các sự cố hàng hải cùng những gián đoạn tại hệ thống cảng làm gia tăng chi phí logistics và ảnh hưởng đến tiến độ vận chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó, tình hình tại một số khu vực sản xuất cũng đang gây trở ngại cho hoạt động thu hoạch ngũ cốc.

Trong bối cảnh này, hai hãng phân tích SovEcon và IKAR đều hạ dự báo xuất khẩu lúa mì tháng 7 của khu vực xuống dưới 2 triệu tấn, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình lịch sử 4 - 6 triệu tấn. Việc Nga hạn chế xuất khẩu dầu diesel cũng làm gia tăng lo ngại về chi phí nhiên liệu phục vụ hoạt động sản xuất và thu hoạch nông nghiệp, đồng thời có thể ảnh hưởng đến kế hoạch gieo trồng trong niên vụ tiếp theo.

Ngoài những diễn biến tại Biển Đen, triển vọng sản lượng tại một số quốc gia xuất khẩu lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ cũng đang được thị trường theo dõi sát. Bộ Nông nghiệp Pháp dự báo sản lượng lúa mì mềm năm 2026 của nước này đạt khoảng 32 triệu tấn, giảm 4% so với năm trước.

Mặc dù diện tích gieo trồng tại Pháp tăng 3%, thời tiết khô nóng vào cuối mùa vụ đã ảnh hưởng đến năng suất, với mức giảm ước tính khoảng 7%. Diễn biến này làm gia tăng lo ngại về triển vọng vụ mùa tại Pháp, quốc gia sản xuất lúa mì lớn nhất Liên minh châu Âu.

Tại Mỹ, tình trạng khô hạn kéo dài ở khu vực Bắc Đồng bằng cũng đang gây bất lợi cho cây lúa mì xuân. Những lo ngại về thời tiết tại các vùng sản xuất lớn đã góp phần gia tăng mức độ thận trọng của thị trường đối với triển vọng nguồn cung trong thời gian tới.

Top 5 quốc gia có sản lượng lúa mì lớn.

Các số liệu cung - cầu mới nhất cũng hỗ trợ giá lúa mì trong phiên. Trong báo cáo WASDE tháng 7, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) hạ dự báo tồn kho lúa mì cuối kỳ niên vụ 2026-2027 của Mỹ xuống còn 19,7 triệu tấn, từ mức 20,25 triệu tấn trong dự báo tháng 6. Dự báo sản lượng lúa mì Mỹ cũng được điều chỉnh giảm nhẹ xuống còn 41,8 triệu tấn.

Trên phạm vi toàn cầu, USDA hạ dự báo tồn kho lúa mì cuối kỳ xuống còn 272,8 triệu tấn, đồng thời điều chỉnh dự báo sản lượng và xuất khẩu của Canada lần lượt xuống 34 triệu tấn và 27,5 triệu tấn. Những điều chỉnh này cho thấy triển vọng nguồn cung lúa mì tại một số quốc gia xuất khẩu lớn đang kém tích cực hơn so với dự báo trước đó.

Sản lượng lúa mì toàn cầu.

Đà tăng mạnh của giá cũng thúc đẩy hoạt động đóng các vị thế bán khống trên thị trường kỳ hạn. Theo số liệu thị trường, khoảng 46.000 hợp đồng lúa mì đỏ mềm vụ đông (SRW) đã được mua lại để đóng các vị thế bán trước đó, qua đó góp phần gia tăng lực mua trong phiên.

Về yếu tố vĩ mô, đồng USD suy yếu cũng tạo thêm hỗ trợ cho giá nông sản Mỹ. Chỉ số Dollar Index (DXY) giảm 0,55% xuống 100,6 điểm sau khi dữ liệu CPI tháng 6 của Mỹ cho thấy áp lực lạm phát hạ nhiệt. Đồng USD giảm giúp hàng hóa được định giá bằng đồng tiền này trở nên cạnh tranh hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác. Trong bối cảnh đó, các nhà nhập khẩu Đài Loan đã mua hơn 98.000 tấn lúa mì Mỹ.

Theo ông David Dũng - Chuyên gia tư vấn chiến lược giao dịch hàng hóa của HAP Commodities Consulting, diễn biến của giá lúa mì hiện chịu tác động từ ba nhóm yếu tố chính. Trước hết, dự báo sản lượng lúa mì niên vụ 2026-2027 giảm hơn 23 triệu tấn so với niên vụ trước đang làm gia tăng lo ngại về triển vọng nguồn cung trong trung và dài hạn. Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng tại châu Âu, đặc biệt là Pháp, có thể ảnh hưởng đến năng suất trước khi khu vực này bước vào giai đoạn thu hoạch. Ngoài ra, những bất ổn địa chính trị tại Nga - Ukraine và Trung Đông tiếp tục tạo ra rủi ro đối với hoạt động vận tải, nguồn cung phân bón và chi phí hàng hải.

Theo ông Dũng, giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 10 là thời điểm hoạt động thu hoạch tại châu Âu diễn ra mạnh. Nguồn cung từ vụ thu hoạch mới được đưa ra thị trường có thể góp phần cân bằng lại diễn biến giá trong thời gian tới.

Tại thị trường trong nước, giá chào lúa mì hiện dao động trong khoảng 7.100 - 7.250 đồng/kg. Trong 6 tháng đầu năm, nhập khẩu lúa mì của Việt Nam tăng khoảng 55% so với cùng kỳ năm 2025. Với mức giá cạnh tranh hơn so với ngô, đặc biệt trong bốn tháng đầu năm, lúa mì được nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi tăng tỷ lệ sử dụng trong công thức phối trộn, đồng thời giảm tỷ trọng ngô.

Mưa lớn tại Đông Nam Á hỗ trợ giá cao su

Đồng pha với nhóm nông sản, lực mua cũng chiếm ưu thế trên thị trường nguyên liệu trong phiên hôm qua. Trong đó, mặt hàng cao su RSS3 gây chú ý khi ghi nhận phiên tăng thứ 9 liên tiếp.

Kết phiên, giá cao su RSS3 tăng hơn 1% lên 2.657 USD/tấn, trong khi cao su TSR20 tăng 0,55%, lên 2.187 USD/tấn.

Diễn biến giá cao su liên kỳ hạn.

Theo MXV, diễn biến thời tiết bất lợi tại Đông Nam Á tiếp tục là yếu tố hỗ trợ với giá cao su. Mưa lớn kéo dài trong giai đoạn thu hoạch cao điểm đã làm gián đoạn hoạt động khai thác tại Thái Lan, Indonesia và Việt Nam, khiến nguồn cung đưa ra thị trường quốc tế bị chậm lại. 

Sản lượng cao su tại các vùng sản xuất trọng điểm khu vực Đông Nam Á đang bị suy giảm do phải trải qua tình trạng mưa lớn kéo dài ngay trong giai đoạn thu hoạch cao điểm. Diễn biến thời tiết này đã làm gián đoạn trực tiếp đến hoạt động khai thác mủ tại các nước xuất khẩu như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam, từ đó làm chậm trễ tiến độ cung ứng nguồn cung ra thị trường toàn cầu. 

Hệ quả là lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 6 đã giảm hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, lượng xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan trong tháng 5 cũng ghi nhận mức giảm 12,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt khoảng 169.050 tấn. 

Lượng cao su xuất khẩu theo tháng của Việt Nam và Thái Lan.

Bên cạnh đó, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông khiến giá dầu gia tăng trở lại và gây ra nguy cơ thiếu hụt năng lượng trên toàn cầu. Giá dầu thô đắt đỏ khiến chi phí sản xuất cao su tổng hợp tăng vọt, từ đó kích hoạt "hiệu ứng thay thế" khi các nhà sản xuất lốp xe chuyển hướng sang ưu tiên cao su tự nhiên để tối ưu hóa chi phí đầu vào. 

Tuy nhiên, đà tăng bị hạn chế bởi những lo ngại gia tăng về nhu cầu sau khi Ủy ban Châu Âu áp thuế chống bán phá giá từ 4.3% đến 45.3% đối với lốp xe nhập khẩu cho xe du lịch, xe tải nhẹ và xe buýt từ Trung Quốc, làm dấy lên lo ngại rằng xuất khẩu lốp xe của Trung Quốc sang EU yếu đi có thể kìm hãm lượng tiêu thụ cao su tự nhiên.  

Doanh số bán xe du lịch nội địa Trung Quốc giảm 9 tháng liên tiếp.

Thực tế cho thấy, lượng nhập khẩu cao su tự nhiên và cao su tổng hợp (bao gồm cả mủ cao su) của Trung Quốc trong tháng 6 vừa qua chỉ đạt 592.000 tấn, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, quốc gia này đã nhập khẩu tổng cộng 3,9 triệu tấn cao su các loại, giảm 3,4% so với nửa đầu năm ngoái. Bức tranh nhu cầu càng thêm ảm đạm khi doanh số bán lẻ xe du lịch tại thị trường tỷ dân này đến tháng 6 tiếp tục lao dốc tháng thứ 9 liên tiếp.

Tại thị trường nội địa, giá mủ cao su trong nước ghi nhận trạng thái đi ngang trong ngày 15/7. Cụ thể, giá mủ nước thu mua tại Bình Phước duy trì ổn định so với ngày hôm trước, dao động quanh mức 520 - 530 đồng/độ; trong khi giá mủ chén cũng giữ vững phong độ ở mức 23.000 - 25.000 đồng/kg. 

Tương tự, biểu giá thu mua của các doanh nghiệp lớn cũng không có sự điều chỉnh mới. Trong đó, giá thu mua mủ nước của Công ty Cao su Bình Long neo tại mức 530 - 540 đồng/độ, còn giá thu mua mủ chén của Công ty Cao su Bà Rịa ổn định ở mức 18.100 đồng/kg. 

Ngọc Ngân