Phù hợp với mọi nhiên liệu và phương tiện vận tải
Để khẳng định hiệu quả, phụ gia FNT6VN đã trải qua một quá trình nghiên cứu và thử nghiệm theo nhiều cấp độ kiểm chứng: phụ gia có làm thay đổi chất lượng nhiên liệu hay không? khả năng tương thích với các loại nhiên liệu khác nhau và ảnh hưởng của nhiên liệu pha phụ gia đến các chi tiết kim loại, phi kim.
Giáo sư Vũ Thị Thu Hà - Giám đốc Phòng Thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ lọc, hóa dầu (Keylab PRT), Phó Viện trưởng Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam - Bộ Công Thương cho biết: Các thử nghiệm được thực hiện trên nhiều động cơ ô tô và xe máy sử dụng xăng và xăng sinh học (E5, E10); động cơ sử dụng diesel và diesel sinh học; các tổ máy phát điện; thiết bị đốt công nghiệp như nồi hơi sử dụng DO, biodiesel hoặc FO, hệ thống đốt nhiên liệu lỏng hỗn hợp và lò nung công nghiệp trong giai đoạn vận hành đặc thù.
Giáo sư Vũ Thị Thu Hà cùng các nhà khoa học tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm công nghệ lọc hóa dầu (Keylab PRT) – Bộ Công Thương
Về hiệu quả tiết kiệm, ở cấp độ phòng thí nghiệm, thử nghiệm trên băng thử động cơ ghi nhận mức tiết kiệm nhiên liệu trên 8%, đồng thời công suất động cơ có xu hướng tăng nhẹ. Khi vận hành thực tế, đặc biệt với các phương tiện tải trọng lớn hoặc làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, như với xe siêu trường siêu trọng, mức tiết kiệm vượt 10%, do các yếu tố bất lợi trong quá trình cháy được bộc lộ rõ hơn và phụ gia phát huy tác dụng mạnh hơn.
Trong các ứng dụng công nghiệp, như nồi hơi sử dụng dầu DO hoặc FO, mức tiết kiệm nhiên liệu khoảng 10% và có thể cao hơn tùy theo điều kiện vận hành. Trong các hệ thống đốt công nghiệp, phụ gia giúp nhiên liệu cháy kiệt hơn, nâng cao hiệu quả truyền nhiệt và giảm đáng kể phát thải CO cũng như muội.
Nhiên liệu sau khi pha với FNT6VN vẫn giữ nguyên các chỉ tiêu chất lượng đáp ứng Quy chuẩn QCVN 1:2015/BKHCN về xăng, nhiên liệu diesel và nhiên liệu sinh học.
Hiệu quả này cũng đã được kiểm chứng trong thực tế sản xuất. Tại Nhà máy Xi măng Tân Thắng (Nghệ An), ứng dụng FNT6VN chỉ riêng một quá trình khởi động lò nung clinker đã giúp tiết kiệm khoảng 3 tỷ đồng mỗi năm. Tại Nhà máy DAP Hải Phòng, phụ gia được sử dụng pha trong dầu vỏ hạt điều cho lò sấy DAP, giúp tiết kiệm khoảng 2 tỷ đồng mỗi năm.
“Trước đây, Tân Thắng buộc phải dùng dầu lỏng - "dầu diesel (DO) phun trực tiếp vào vùng đốt trong lò, không thể dùng dầu tái chế FO-R vì nặng, đặc quánh, khó bắt cháy, khó nâng nhiệt sấy dù dầu FO-R rẻ bằng một nửa DO", ông Hoàng Anh Tuấn, nguyên Tổng giám đốc Xi măng Tân Thắng cho biết và khẳng định, FNT6VN đã khắc phục được nhược điểm đó của dầu FO-R, cháy tốt như dầu DO mà không gây ra bất kỳ phản ứng phụ nào. Sau ba tháng thử nghiệm, đánh giá dựa trên các chỉ số kỹ thuật và hiệu quả kinh tế, Tân Thắng đã đưa FNT6VN vào sử dụng từ 2021 đến nay.
Trước khi tiến hành triển khai ứng dụng đại trà tại Nhà máy Xi măng Tân Thắng, phụ gia FNT6VN đã được triển khai ứng dụng thành công tại Nhà máy sản xuất DAP của Công ty cổ phần DAP - Vinachem.
Sự có mặt của phụ gia FNT6VN không những cho phép quá trình sấy DAP vận hành ổn định, mà còn giúp tiết giảm suất tiêu hao nhiên liệu so với khi không sử dụng phụ gia. Với hiệu quả kỹ thuật nổi bật đó, khi sử dụng phụ gia FNT6VN, Nhà máy DAP đã tiết giảm được chi phí cho quá trình sấy DAP bằng nhiên liệu dầu vỏ hạt điều là 6 319,70 đồng/tấn DAP (sau khi đã trừ chi phí phụ gia).
DAP sử dụng phụ gia FNT6VN cho đốt dầu lò sấy sản phẩm.
Với công suất 330 000 tấn DAP/năm, việc sử dụng phụ gia FNT6VN giúp tiết giảm chi phí nhiên liệu để sấy DAP là trên 2 tỷ VNĐ/năm. Hơn nữa, nhờ sự có mặt của phụ gia FNT6VN, nhiên liệu cháy kiệt hơn nên muội phát thải theo khói lò ít hơn, góp phần cải thiện thông số về khí thải, bảo vệ môi trường. Dựa trên những kết quả nổi bật đã thu được, phụ gia FNT6VN đã được Nhà máy DAP lựa chọn sử dụng trong quá trình sản xuất công nghiệp tại nhà máy.
Dễ triển khai từ hệ thống cung ứng tới người sử dụng
Phụ gia FNT6VN chỉ cần sử dụng với tỷ lệ rất thấp, 1 lít phụ gia pha với 160.000 lít xăng, 60.000 lít dầu diesel hoặc 45 tấn dầu FO.
"Tỷ lệ ở mức vài phần triệu với xăng và vài chục phần triệu với diesel hoặc FO, phụ gia chỉ làm tối ưu quá trình cháy mà không làm thay đổi bản chất hoặc bất kỳ chỉ tiêu kỹ thuật nào của nhiên liệu", GS Vũ Thị Thu Hà cho biết.
Đây là điểm khác biệt của FNT6VN với các phụ gia dùng cho chế biến xăng dầu tại nơi sản xuất nhiên liệu. Vì vậy, theo Giáo sư Vũ Thị Thu Hà, khi xem xét các giải pháp như FNT6VN, cơ quan quản lý nên đánh giá dựa trên mục đích sử dụng trong giai đoạn vận hành, thay vì đồng nhất với các phụ gia dùng trong sản xuất nhiên liệu. Từ đó, sớm nghiên cứu cơ chế thí điểm, đánh giá thực tế hoặc xây dựng khung quản lý linh hoạt, nhằm vừa kiểm soát chất lượng, vừa đảm bảo an toàn hệ thống khi pha FNT6VN vào nhiên liệu thương phẩm.
Về cách áp dụng, cả người dùng cuối và hệ thống cung ứng hay phân phối đều có thể triển khai. Rất đơn giản, ở phía người sử dụng cuối, chỉ cần bổ sung trực tiếp vào bồn khi nạp nhiên liệu theo đúng định lượng và dung dịch tự tan.
"Cách làm này tương tự các giải pháp phối trộn phụ gia đang được áp dụng trong hệ thống logistics xăng dầu hiện nay, do đó có thể triển khai mà không yêu cầu đầu tư hạ tầng phức tạp", Giáo sư Vũ Thị Thu Hà khẳng định.
Theo các chuyên gia, để phát huy hiệu quả ở quy mô lớn, việc tích hợp giải pháp ngay từ khâu phân phối thông qua các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu sẽ là yếu tố có ý nghĩa quyết định.
Cần có cơ chế phù hợp
Trong bối cảnh bức thiết phải tiết kiệm năng lượng, một sản phẩm khoa học đã được minh chứng hiệu quả tiết kiệm trong thực tiễn, sẵn sàng đưa vào sử dụng ngay cả ở người dùng cuối là các nhà máy, doanh nghiệp vận tải hay người sử dụng cá nhân rát đáng được quan tâm, nhưng để mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế còn liên quan đến quy mô sử dụng. Một hướng tiếp cận đang đặt ra là thay vì sử dụng phụ gia phân tán ở các nhà máy hoặc người dùng cuối, liệu có thể triển khai ngay từ khâu cung ứng - tức là pha trộn tại các đầu mối sản xuất hay phân phối xăng dầu?
Pha phụ gia vào nhiên liệu DO và nhiên liệu FO trong xe bồn. Ảnh: NVCC
Giả định với nhà máy lọc dầu cung ứng trên 5 triệu tấn nhiên liệu mỗi năm, trộn chế phẩm này vào nhiên liệu trước khi phân phối, tiết kiệm 8 - 10%, tổng lượng nhiên liệu tiết giảm quy đổi có thể đạt 400.000 - 500.000 tấn/năm.
Quy đổi theo giá năng lượng trung bình của thị trường chỉ trong điều kiện bình thường, phần "năng lượng tiết kiệm được" này tương đương khoảng 7.000 - 9.000 tỷ đồng mỗi năm (đã trừ chi phí phụ gia tạm tính khoảng 200 đồng/lít xăng). Đồng thời, phát thải CO₂, các khí ô nhiễm và muội giảm 10 - 20%.
Với quy mô toàn thị trường, phần lợi ích kinh tế ròng có thể đạt khoảng 25.000 - 35.000 tỷ đồng mỗi năm, tương đương với giá trị đầu tư của nhiều dự án năng lượng lớn.
Tuy nhiên, nếu triển khai tại đầu nguồn, chi phí phụ gia sẽ do doanh nghiệp cung ứng nhiên liệu trả, trong khi phần lớn lợi ích kinh tế lại phân bổ đến người sử dụng cuối và toàn xã hội.
Thực tế thử nghiệm cho thấy, với tỷ lệ pha trộn cực thấp, (một lít FNT6VN pha với 154.000 lít xăng, hoặc 59.000 lít diesel, hoặc 45.000 kg FO), phụ gia giúp tiết kiệm nhiên liệu đáng kể - đối với xăng: 10 - 12%; đối với diesel: 10 - 15%; đối với FO cho tàu thủy: 10 - 20%; đối với nhiên liệu nồi hơi FO/DO: 10 - 25%. Phụ gia giúp giảm phát thải ô nhiễm đáng kể như: Muội than giảm 18 - 20%, CO giảm ~18%, CO₂ giảm khoảng 10%, nhờ tiết giảm tiêu thụ nhiên liệu.
Thông tin từ Giáo sư Vũ Thị Thu Hà cho biết, các minh chứng thực tế tại Nhà máy Xi măng Tân Thắng và Nhà máy DAP Hải Phòng, cho thấy tính khả thi cao của công nghệ và tiềm năng mở rộng quy mô ứng dụng trên toàn ngành. Đây là những tín hiệu quan trọng, góp phần khẳng định vị thế và triển vọng lan tỏa của các giải pháp phụ gia tiết kiệm nhiên liệu “Make in Vietnam”. Chính vì vậy, theo các chuyên gia, để các giải pháp khoa học như FNT6VN phát huy hiệu quả ở quy mô lớn, cần có cơ chế phù hợp, chẳng hạn như các chương trình thí điểm, cơ chế khuyến khích và chia sẻ lợi ích.