Biểu tượng lịch sử
Ngày 20/8/2026, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thủ đô và Ủy ban nhân dân phường Hoàn Kiếm phối hợp triển khai phương án di chuyển tượng đài "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" từ khuôn viên di tích quốc gia đền Bà Kiệu về Trung đoàn 692, Sư đoàn Bộ binh 301. Thời hạn hoàn thành lắp dựng tại vị trí mới là trước ngày 30/9/2026, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng vũ trang Thủ đô ngày 19/10/2026 và 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến, ngày 19/12/2026.
Thông tin này lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều người. Với người Hà Nội, tượng đài từ lâu đã trở thành một hình ảnh quen thuộc, gắn với ký ức tuổi thơ, những buổi sớm đi qua bờ Hồ và câu chuyện về 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô mùa Đông năm 1946.
Vượt lên trên câu chuyện ký ức của riêng Hà Nội, tượng đài mang giá trị rộng lớn hơn nhiều. Công trình ghi dấu tinh thần chiến đấu và hy sinh của quân dân Thủ đô trong 60 ngày đêm mùa Đông năm 1946, thời điểm Hà Nội trở thành tuyến đầu mở màn cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Những chiến sĩ đã chiến đấu giữa lòng Hà Nội nhưng ý chí "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" từ lâu đã vượt khỏi giới hạn của một thành phố để trở thành biểu tượng chung của tinh thần yêu nước, lòng quả cảm và ý chí bảo vệ độc lập dân tộc.
Vì vậy, công trình như một tài sản thuộc về ký ức lịch sử chung của đất nước, gắn với những giá trị mà nhiều thế hệ người Việt Nam cùng gìn giữ và trao truyền. Chính chiều sâu lịch sử khiến tượng đài trở thành di sản văn hóa có ý nghĩa lâu dài, vừa nhắc nhớ về một giai đoạn đặc biệt của Thủ đô vừa phản ánh tinh thần chiến đấu của cả dân tộc trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến.
Tượng đài hướng về đường Đinh Tiên Hoàng, nằm cạnh đền Bà Kiệu, đối diện không gian hồ Hoàn Kiếm và gần đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc.
Báo Quân đội nhân dân ngày 13/12/2006, trong bài của tác giả Dương Xuân Đống - nhà nghiên cứu văn hoá quân sự viết rằng, lời thề quyết tử vào thời gian và không gian đó "đã bao hàm, đã trở thành một biểu tượng của Thủ đô chúng ta, đồng thời cũng trở thành biểu tượng của cả nước đánh giặc khi bước vào cuộc chiến tranh giải phóng lần thứ nhất".
Từ góc nhìn lịch sử và văn hóa quân sự, tác giả cho rằng hành động quyết tử của các chiến sĩ Hà Nội mùa Đông năm 1946 tiếp nối và phát triển truyền thống bất khuất bắt nguồn từ lòng yêu nước của dân tộc. Đó là dòng chảy xuyên suốt trong lịch sử Việt Nam, từ khí phách của Trần Bình Trọng năm 1285 đến tinh thần sẵn sàng hy sinh của những người lính bảo vệ Thủ đô trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến. Do đó, giá trị tượng đài chuyển tải đã vượt ra ngoài phạm vi của một sự kiện lịch sử địa phương để trở thành một phần của ký ức và bản sắc văn hóa dân tộc.
Hiểu như vậy thì câu hỏi về chỗ đặt tượng đài không còn là câu hỏi của riêng Hà Nội. Bất kỳ cơ quan hay đơn vị nào tiếp nhận công trình đều đang nhận trách nhiệm gìn giữ một giá trị chung chứ không đơn thuần tiếp nhận một tài sản. Quyền quản lý có thể được giao cho một đơn vị cụ thể nhưng giá trị lịch sử và văn hóa mà tượng đài đại diện thuộc về cộng đồng rộng lớn hơn.
Chính vì vậy, việc lựa chọn địa điểm mới cần giải quyết đồng thời hai yêu cầu: bảo đảm sự phù hợp với nội dung lịch sử của công trình và tạo điều kiện để công chúng có thể tiếp cận, tìm hiểu, tưởng niệm. Một di sản mang ý nghĩa chung của cả nước sẽ phát huy đầy đủ giá trị khi được đặt trong một không gian trang nghiêm, phù hợp với lịch sử và đủ khả năng mở cửa cho các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp cận.
Tượng đài do cố nghệ sĩ Kim Giao sáng tác, dựng năm 1984 thể hiện ba nhân vật: chiến sĩ Vệ quốc đoàn cầm bom ba càng ở vị trí trung tâm, bên cạnh là cô gái mặc áo dài cầm gươm và người công nhân cầm súng. Ba hình tượng đại diện cho những lực lượng đã cùng đứng lên chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến.
10 năm sau, ngày 5/2/1994, Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng đền Bà Kiệu là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 226/QĐ/BT.
Dẫn mốc thời gian này để thấy điểm cần được nhìn nhận rõ: Tượng đài đã hiện diện tại khu vực đền Bà Kiệu từ năm 1984, trước thời điểm di tích được xếp hạng cấp quốc gia đúng 10 năm. Khi cơ quan chức năng lập hồ sơ khoa học và xác định ranh giới các khu vực bảo vệ di tích, cụm tượng đã nằm trong khuôn viên này.
Vì vậy, không thể nhìn vấn đề theo hướng một công trình được dựng trái phép trong khu vực bảo vệ di tích. Thực tế là công trình có trước, còn hệ thống pháp lý về bảo vệ di tích cùng các yêu cầu quản lý không gian di sản được hoàn thiện về sau. Khi quy định pháp luật thay đổi, cơ quan quản lý phải rà soát hiện trạng để bảo đảm sự phù hợp giữa công trình đang tồn tại với yêu cầu bảo vệ di tích trong giai đoạn hiện nay.
Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 quy định tại khoản 1 Điều 28: "Trong khu vực bảo vệ I của di tích, khu vực di sản thế giới chỉ được sửa chữa, cải tạo, xây dựng công trình sau đây: a) Sửa chữa, cải tạo, xây dựng công trình trực tiếp phục vụ bảo vệ và phát huy giá trị di tích, di sản thế giới; b) Sửa chữa, cải tạo, xây dựng lại nhà ở riêng lẻ trên cơ sở hiện trạng nhà ở riêng lẻ đã có".
Đối chiếu với quy định trên, cụm tượng đài về các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô dù mang giá trị lịch sử và tinh thần đặc biệt vẫn khó được xem là công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị của đền Bà Kiệu, một di tích thờ Mẫu có từ thế kỷ XVII. Nếu đặt trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, việc đề xuất xây mới một cụm tượng như vậy ngay trong khu vực bảo vệ I của di tích sẽ khó đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 28 Luật Di sản văn hóa.
Tượng đài "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" tại khuôn viên đền Bà Kiệu, phường Hoàn Kiếm.
Bà Phạm Thị Lan Anh - Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao Hà Nội cho biết, tượng đài hiện nằm trong khu vực bảo vệ I của di tích quốc gia đền Bà Kiệu, đồng thời gắn chặt với tổng thể không gian hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn và các công trình văn hóa lân cận. Về thẩm quyền xử lý, khoản 2 Điều 31 Luật Di sản văn hóa năm 2024 quy định cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh có quyền quyết định việc đưa thêm, di dời hoặc thay đổi hiện vật trong di tích quốc gia. Đền Bà Kiệu đã được xếp hạng di tích quốc gia nên Sở Văn hóa, Thể thao Hà Nội là cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định đối với việc di dời hiện vật trong phạm vi di tích theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc Sở Văn hóa, Thể thao Hà Nội thông tin và triển khai các thủ tục liên quan đến phương án di chuyển tượng đài xuất phát từ thẩm quyền mà pháp luật giao cho cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh. Đây không phải việc một cơ quan hành chính tự đứng ra xử lý thay đơn vị khác mà là quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với một di tích quốc gia trên địa bàn Thủ đô.
Hành trình hiểu đúng lịch sử
Ba công trình cùng chủ đề nhưng phía sau đó là cả một quá trình kéo dài nhiều năm để xác định lại cho đúng một câu đã đi vào lịch sử. Đây cũng là chi tiết quan trọng nhưng hầu như chưa được nhắc tới đầy đủ trong các thông tin những ngày qua.
Khi dựng năm 1984, cụm tượng tại đền Bà Kiệu mang tên và dòng chữ đắp nổi "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh". Sau đó, chính những nhân chứng từng trực tiếp làm nhiệm vụ trong những ngày đầu kháng chiến đã đặt vấn đề về tính chính xác của câu chữ này.
Một trong những người sớm lên tiếng là bà Nguyễn Thị Bích Thuận - nguyên Phó Cục trưởng Cục Cảnh vệ, Bộ Công an, phu nhân đồng chí Lê Văn Lương. Trong thời kỳ đầu kháng chiến, bà công tác trong ngành Cơ yếu. Đầu tháng 1/1947, đồng chí Trần Quốc Hoàn, khi đó phụ trách mặt trận Hà Nội trực tiếp giao cho bà một bức điện mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ, chiến sĩ Liên khu I để mã hóa. Theo lời kể của bà Thuận, câu trong bức điện là: "Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".
Ít ngày sau, bà tiếp tục trực tiếp giải mã bức điện của Trung đoàn Thủ đô gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương do đồng chí Lê Trung Toản ký. Trong bức điện này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô nhắc lại lời thề "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".
Bản gốc những bức điện mật này không còn. Theo nguyên tắc bảo mật nghiêm ngặt của ngành Cơ yếu thời kỳ đó điện mật phải được hủy sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, lời kể của bà Nguyễn Thị Bích Thuận có một giá trị đặc biệt bởi bà là người trực tiếp mã hóa và giải mã những bức điện liên quan.
Từ ký ức của một nhân chứng lịch sử, câu chuyện dần trở thành vấn đề cần được các cơ quan chức năng xác minh. Năm 1995, bà Thuận viết thư gửi Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thường trực Ban Bí thư Đào Duy Tùng, đề nghị xác định và trả lại đúng nguyên bản lời thề của Trung đoàn Thủ đô. Sau khi nhận được kiến nghị, các đồng chí lãnh đạo đã ghi nhận và giao cơ quan chức năng nghiên cứu. Bà Thuận sau đó tiếp tục trực tiếp đề nghị Bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Xuân Tùng xem xét sửa lại dòng chữ trên tượng đài tại đền Bà Kiệu.
Có một điều trùng hợp đáng chú ý, cũng chính năm 1995, ở một hồ sơ hoàn toàn khác, Hà Nội lần đầu đặt ra việc nghiên cứu mở rộng không gian hồ Gươm. Theo nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội Đào Ngọc Nghiêm, ý tưởng nghiên cứu mở rộng không gian hồ Gươm đã được đề cập từ thời điểm này, tuy nhiên thành phố chưa thể triển khai trong nhiều năm do thiếu nguồn lực đầu tư và kinh phí giải phóng mặt bằng.
Ngày 28/3/1997, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tổ chức tọa đàm để xác minh tư liệu liên quan đến hai cách gọi "cảm tử" và "quyết tử". Đến giữa năm 2003, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội tiếp tục tổ chức một tọa đàm về ý tưởng lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của tượng đài, phục vụ công tác chuẩn bị kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng Thủ đô.
Sau quá trình nghiên cứu, đối chiếu và xác minh tư liệu, Thành ủy Hà Nội cùng Bộ Văn hóa Thông tin thống nhất xác định lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bức điện mật gửi cán bộ, chiến sĩ Liên khu I đầu năm 1947 là: "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".
Từ kiến nghị đầu tiên năm 1995 đến kết luận chính thức là một quá trình kéo dài nhiều năm, qua hai cuộc tọa đàm và nhiều bước xác minh. Chỉ một chữ trên bệ tượng nhưng Hà Nội đã chọn cách làm thận trọng: tìm lại tư liệu, lắng nghe nhân chứng, đối chiếu lịch sử rồi mới đi đến kết luận. Đó là cách một nền hành chính cầu thị xử lý một chữ trên bệ đá.
Kết quả của quá trình đó nhanh chóng được thể hiện bằng những công trình mới. Ngày 22/12/2004, tượng đài "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" khánh thành tại vườn hoa Vạn Xuân, phố Hàng Đậu. Công trình được ghép từ 34 khối đá, cao 9,7 m, nặng hơn 300 tấn, thực hiện theo mẫu phác thảo của nhà điêu khắc Vũ Đại Bình và họa sĩ Mai Văn Kế.
3 ngày trước đó, ngày 19/12/2004, phù điêu "Hà Nội mùa đông 1946" cũng được khánh thành tại chợ Đồng Xuân. Công trình đúc bằng đồng, nặng 7 tấn, cao 5,7 m tính cả bệ và rộng 4,5 m. Như vậy, trong cùng thời điểm chuẩn bị kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, Hà Nội đã bổ sung thêm hai công trình lớn cùng tái hiện tinh thần chiến đấu của quân dân Thủ đô trong mùa đông năm 1946.
Cũng trong năm 2004, chính cụm tượng tại đền Bà Kiệu được chỉnh lại dòng chữ. Báo Quân đội nhân dân ngày 10/10/2021, trong bài "Nên viết đúng một câu đã đi vào lịch sử" cho biết, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng Thủ đô tháng 10/2004, câu "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" trên cụm tượng đã được sửa thành "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" để phù hợp với kết quả xác minh lịch sử.
Một chi tiết khác cho thấy, câu chuyện di chuyển cụm tượng không phải đến năm 2026 mới được đặt ra. Báo An ninh Thủ đô ngày 7/7/2020 cho biết, tượng đài mới từng được dự kiến đặt tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục để thay thế nhóm tượng ở đền Bà Kiệu. Sau khi cân nhắc phương án tổ chức không gian, ban tổ chức quyết định chọn vườn hoa Vạn Xuân, do đó, cụm tượng cũ tại đền Bà Kiệu tiếp tục được giữ lại và chỉ chỉnh sửa dòng chữ.
Như vậy, phương án thay thế hoặc di chuyển cụm tượng đã xuất hiện từ năm 2004, tức 22 năm trước quyết định năm 2026. Khi đó, Hà Nội chưa thực hiện việc di dời. Đến nay, vấn đề được đặt lại trong một bối cảnh mới khi thành phố đồng thời triển khai việc chỉnh trang và tổ chức lại không gian phía Đông hồ Hoàn Kiếm.
Nhìn theo dòng thời gian đó, sự tồn tại của ba công trình cùng chủ đề trong khu vực phố cổ và phố cũ không đơn thuần là sự trùng lặp. Mỗi công trình đánh dấu một giai đoạn trong quá trình nhận thức, xác minh và thể hiện lại một biểu tượng lịch sử.
Cụm tượng tại đền Bà Kiệu là lớp ký ức đầu tiên, ra đời từ năm 1984. Phù điêu tại chợ Đồng Xuân tái hiện không khí chiến đấu của Hà Nội mùa đông năm 1946. Còn tượng đài tại vườn hoa Vạn Xuân được dựng sau quá trình nhiều năm xác minh tư liệu và mang đầy đủ câu chữ "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" theo kết luận của Thành ủy Hà Nội và Bộ Văn hóa Thông tin.
Từ góc độ đó, tượng đài tại vườn hoa Vạn Xuân có thể xem là công trình được hoàn thiện trên cơ sở kết quả xác minh lịch sử kéo dài nhiều năm. Công trình đã hiện diện giữa lòng Hà Nội từ năm 2004 và trở thành điểm nhấn tưởng niệm tinh thần quyết tử của quân dân Thủ đô trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến.
Cần tiếp tục chuẩn hóa
Có một chi tiết cho thấy việc chuẩn hóa tên gọi đến nay vẫn chưa thực sự khép lại. Năm 2021, tức 18 năm sau khi Thành ủy Hà Nội và Bộ Văn hóa Thông tin thống nhất cách gọi, Báo Quân đội nhân dân đăng bài "Nên viết đúng một câu đã đi vào lịch sử" để nhắc lại vấn đề này. Bài viết dẫn hai trường hợp báo chí sử dụng chưa chính xác và khẳng định cả hai cách viết "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" và "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" đều không đúng với câu đã được xác minh.
Bài báo đồng thời phân tích khá rõ ý nghĩa của từng từ. "Cảm tử" được hiểu là dũng cảm hy sinh, trong khi "quyết tử" thể hiện ý chí sẵn sàng hy sinh với mức độ quyết liệt, can trường và bi hùng hơn. Tương tự, từ "để" xác lập rõ quan hệ giữa sự hy sinh của người chiến sĩ với mục tiêu lớn hơn là sự sống còn của Tổ quốc. Chính sự khác biệt đó làm nên sức nặng của câu "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" và cũng lý giải vì sao việc viết đúng nguyên văn mang ý nghĩa lịch sử chứ không đơn thuần là câu chuyện câu chữ.
Tuy nhiên, sự nhầm lẫn vẫn tiếp diễn. Tháng 3/2024, một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam về việc cải tạo vườn hoa Vạn Xuân, dẫn thông tin từ Ủy ban nhân dân quận Ba Đình, vẫn gọi công trình là "Tượng đài Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Như vậy, hai thập niên sau khi các cơ quan có thẩm quyền xác định cách gọi chính xác, ít nhất ba biến thể của câu nói vẫn xuất hiện trong sách báo, trên truyền thông và cả trong thông tin của cơ quan nhà nước. Điều đó cho thấy một kết luận lịch sử đã có chưa đồng nghĩa với việc cách gọi tự động được chuẩn hóa trong đời sống.
Bởi vậy, đợt chỉnh trang và sắp xếp lại không gian lần này cũng đặt ra một yêu cầu khác: chuẩn hóa thống nhất tên gọi của công trình và câu chữ gắn với biểu tượng lịch sử. Làm đúng từ một dòng chữ tưởng như nhỏ bé cũng chính là cách tôn trọng lịch sử và giữ cho ký ức được truyền lại một cách chính xác.
Đúng yêu cầu phát triển
Việc di chuyển tượng đài chỉ là một hạng mục trong kế hoạch tổ chức lại không gian phía Đông hồ Hoàn Kiếm, khu vực Hà Nội đang dành nguồn lực lớn để hình thành quảng trường công viên mới và mở rộng không gian công cộng ở trung tâm Thủ đô.
Dự án quảng trường công viên phía Đông hồ Hoàn Kiếm có tổng diện tích khoảng 2,14 ha. Phía Tây dự án giáp hồ Hoàn Kiếm và đường Đinh Tiên Hoàng, phía Bắc giáp khu dân cư, phía Đông giáp phố Lý Thái Tổ và phía Nam giáp phố Trần Nguyên Hãn.
Ở phân kỳ một, thành phố thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với 59 chủ sử dụng nhà đất, gồm 17 tổ chức và 42 hộ dân, trên tổng diện tích khoảng 21.151 m². Quy mô giải phóng mặt bằng cho thấy đây không phải một cuộc chỉnh trang cục bộ mà là quá trình tổ chức lại một khu vực đô thị có mật độ công trình cao ngay sát hồ Hoàn Kiếm.
Sang phân kỳ hai, thành phố nghiên cứu không gian ngầm với quy mô khoảng ba tầng hầm và khả năng kết nối với ga ngầm C9 của tuyến đường sắt đô thị số 2 Nam Thăng Long đến Trần Hưng Đạo. Thành phố triển khai phương án này trên cơ sở Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn năm 2065 và quy hoạch phân khu H1-1B tỷ lệ 1/2.000 đối với khu vực hồ Gươm và vùng phụ cận.
Con số nói lên vấn đề rõ hơn lời bình. Cả khu vực hồ Gươm chỉ có một quảng trường là Đông Kinh Nghĩa Thục, rộng khoảng 5.000 m² (theo số liệu Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội, tháng 3/2025). Sau khi tháo dỡ tòa nhà Hàm cá mập và tổ chức lại kết nối với các tuyến phố xung quanh, không gian tại đây được mở rộng lên khoảng 12.000 m².
Trong khi đó, hồ Hoàn Kiếm thường xuyên trở thành nơi tổ chức hàng trăm sự kiện lớn nhỏ mỗi năm. Vào các dịp lễ lớn, thành phố phải cấm hoặc hạn chế phương tiện trên nhiều tuyến phố xung quanh để giảm áp lực giao thông và tránh tình trạng quá tải. Bài toán thiếu không gian công cộng ngày càng hiện hữu khi quy mô dân số, lượng người tập trung và nhu cầu tổ chức các hoạt động văn hóa tại khu vực trung tâm liên tục tăng.
Kiến trúc sư Trần Huy Ánh - Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội đặt vấn đề bằng một so sánh: Khu vực trung tâm Hà Nội trước đây được quy hoạch cho khoảng 250.000 người trong khi quy mô dân số toàn thành phố hiện đã gần 10 triệu người.
Theo ông, việc mở rộng không gian công cộng trở thành một yêu cầu tất yếu. Trong bối cảnh đó, việc di chuyển cụm tượng cần được nhìn trong tổng thể một cuộc tái cấu trúc không gian lớn hơn quanh hồ Hoàn Kiếm. Thành phố không xử lý riêng một công trình mà đang đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch, giao thông, không gian công cộng và kết nối các thiết chế văn hóa lịch sử tại khu vực trung tâm.
Thời điểm quan trọng
Một quyết định liên quan đến tượng đài lịch sử giữa khu vực trung tâm hồ Hoàn Kiếm chỉ có thể thực hiện khi nhiều điều kiện cùng hội tụ.
Trước hết, Hà Nội phải xác định rõ nguyên văn lời thề gắn với tượng đài để việc di chuyển công trình không bị đánh đồng với việc xem xét lại giá trị lịch sử của biểu tượng. Điều kiện này đã được làm rõ từ năm 2003, sau quá trình nhiều năm nghiên cứu, xác minh tư liệu và tổ chức các cuộc tọa đàm chuyên môn.
Tiếp đó, thành phố phải có quy hoạch tổng thể cho khu vực. Khi đó, khoảng không gian hình thành sau khi di chuyển tượng đài sẽ trở thành một phần của phương án tổ chức lại không gian phía Đông hồ Hoàn Kiếm chứ không tạo ra một khoảng trống đơn lẻ. Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn năm 2065 cùng quy hoạch phân khu H1-1B đã tạo cơ sở cho việc tổ chức lại toàn bộ khu vực này.
Điều kiện thứ ba là nguồn lực thực hiện. Thành phố phải giải quyết đồng thời việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho 59 chủ sử dụng nhà đất trong khu vực dự án, gồm 17 tổ chức và 42 hộ dân. Chỉ khi có đủ nguồn lực, kế hoạch chỉnh trang mới có thể triển khai trong một tổng thể thống nhất thay vì xử lý từng hạng mục riêng lẻ.
Đến năm 2026, ba điều kiện đó cùng hội tụ. Đây cũng là năm kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng vũ trang Thủ đô 19/10/1946 và 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Đặt trong tiến trình kéo dài khoảng ba thập niên, việc di chuyển tượng đài không phải quyết định đột ngột, đó là kết quả của một quá trình đã được đặt vấn đề, nghiên cứu và chuẩn bị từ nhiều năm trước.
Ngày 20/8/2026, TS. Nguyễn Doãn Văn - Giám đốc Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội xác nhận với báo chí về phương án di chuyển tượng đài. Theo Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội, thành phố thực hiện việc này nhằm triển khai chủ trương quy hoạch, chỉnh trang và phát huy giá trị không gian phía Đông hồ Hoàn Kiếm, qua đó bảo đảm sự hài hòa về cảnh quan và không gian văn hóa, lịch sử của khu vực Hồ Gươm.
Tối cùng ngày, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phát thông cáo cho biết thành phố xây dựng phương án trên cơ sở nghiên cứu và tham vấn ý kiến của các cơ quan, đơn vị, chuyên gia và nhà khoa học. Theo cơ quan này, các cơ quan chuyên môn, nhà khoa học và đơn vị liên quan thống nhất rằng việc đưa tượng đài về Bộ Tư lệnh Thủ đô phù hợp với ý nghĩa lịch sử của công trình bởi tượng đài gắn với quá trình ra đời, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Thủ đô.
Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, đơn vị tiếp nhận công trình xác định đây vừa là niềm vinh dự, tự hào vừa là trách nhiệm trước lịch sử, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Thủ đô và nhân dân Hà Nội. Theo Bộ Tư lệnh, việc đặt tượng đài tại một vị trí trang nghiêm trong khuôn viên đơn vị sẽ góp phần gìn giữ giá trị lịch sử, văn hóa của công trình đồng thời phục vụ giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ và thế hệ trẻ.
Tìm phương án hợp lý nhất
GS. Lê Văn Lan cho rằng, việc lựa chọn một địa điểm thích hợp hơn cho tượng đài là kết quả của quá trình dài quan sát, suy nghĩ, cân nhắc, lắng nghe và bàn bạc. Theo ông, đặt tượng trong không gian của lực lượng vũ trang Thủ đô tạo nên sự gắn kết trực tiếp hơn với truyền thống lịch sử mà công trình biểu đạt.
Nhìn vấn đề trong tổng thể quá trình chỉnh trang khu vực hồ Hoàn Kiếm, TS. Nguyễn Văn Sơn - Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội cho rằng, với một công trình mang giá trị lịch sử, vị trí địa lý chưa phải yếu tố duy nhất. Quan trọng hơn là lựa chọn được không gian phù hợp với nội dung và ý nghĩa của công trình. Khi tượng đài được đặt trong môi trường gắn với lực lượng tiếp nối truyền thống của Trung đoàn Thủ đô, mạch nối lịch sử vẫn được duy trì.
Lập luận này có cơ sở từ chính lịch sử của Trung đoàn Thủ đô. Trong 60 ngày đêm từ 19/12/1946 - 17/2/1947, đơn vị đã thực hiện gần 200 trận đánh, giữ chân quân Pháp tại Hà Nội lâu hơn kế hoạch, góp phần tạo thời gian để cả nước chuyển sang trạng thái thời chiến và để các cơ quan đầu não rút lên căn cứ an toàn. Lực lượng vũ trang Thủ đô hôm nay kế tục phiên hiệu và truyền thống đó.
Một số ý kiến bạn đọc cũng cho rằng việc đặt tượng đài trong không gian của lực lượng đang trực tiếp kế tục truyền thống mà công trình tôn vinh có sự tương thích rõ hơn về lịch sử, thay vì tiếp tục đặt trong khuôn viên một ngôi đền thờ Mẫu với chức năng và giá trị văn hóa khác biệt.
Tuy nhiên, đưa tượng đài về hệ thống lực lượng vũ trang Thủ đô mới trả lời được câu hỏi về sự phù hợp lịch sử. Đặt công trình cụ thể ở đâu để vừa bảo đảm tính trang nghiêm, an toàn vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, du khách và thế hệ trẻ tiếp cận lại là vấn đề cần tiếp tục cân nhắc.
Báo Công Thương tổng hợp thông tin trên báo chí truyền thông về những phương án từng và đã đặt ra với Thủ đô để đi tới một phương án hợp lý nhất:
Trong bài tiếp theo, trở lại với câu hỏi cụ thể: Đâu là nơi thích hợp để tượng đài "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", vừa được gìn giữ đúng giá trị lịch sử vừa tiếp tục sống trong đời sống cộng đồng?
Còn nữa...