Đóng

Giữ vững chủ quyền biển đảo từ Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" là nguồn sức mạnh hun đúc bản lĩnh cán bộ, chiến sĩ Hải quân kiên cường bảo vệ vững chắc biển đảo Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhìn lại chặng đường hơn 71 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam càng thấy rõ sức sống bền bỉ của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự do, về biển, đảo và xây dựng lực lượng Hải quân.

Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, hun đúc ý chí, bản lĩnh và quyết tâm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ; tiếp tục soi sáng hành trình xây dựng Quân chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Từ chân lý độc lập, tự do đến ý chí giữ biển

Độc lập, tự do là khát vọng cháy bỏng, là giá trị thiêng liêng mà dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi bằng biết bao máu xương trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc.

Hai mươi mốt năm sau, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, trong Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngày 17/7/1966, Người khẳng định chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Từ lời tuyên bố về quyền độc lập của dân tộc đến lời hiệu triệu bảo vệ độc lập bằng mọi giá là một mạch tư tưởng nhất quán, kết tinh ý chí, khí phách và sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày 17/7/1966, trong đó khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. (Ảnh tư liệu)

Dưới ngọn cờ độc lập, tự do, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Từ đó, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trở thành tài sản tinh thần vô giá, tiếp tục cổ vũ các thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đối với Hải quân nhân dân Việt Nam, chân lý ấy gắn bó mật thiết với tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về biển, đảo. Ngày 10/4/1956, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển, Người chỉ rõ: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không?”.

Cách nói giản dị nhưng hàm chứa tư duy chiến lược sâu sắc: Biển là không gian sinh tồn, phát triển, đồng thời là hướng phòng thủ đặc biệt quan trọng của đất nước.

Trước đó, ngày 7/5/1955, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 284/NĐ/A thành lập Cục Phòng thủ bờ bể - tiền thân của Quân chủng Hải quân. Trong những năm đầu xây dựng lực lượng, bộ đội Hải quân ba lần vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, vào các ngày 30/3/1959, 15/3/1961 và 13/11/1962.

Mỗi lần đến với cán bộ, chiến sĩ Hải quân, Người đều dành sự quan tâm sâu sắc và những lời căn dặn thiết thực về xây dựng lực lượng, huấn luyện, làm chủ vũ khí, trang bị và bảo vệ biển, đảo.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc quyết định thành lập thủy đội Sông Lô, Bạch Đằng, ngày 24/8/1955 - những đơn vị tiền thân của Hải quân nhân dân Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Ngày 30/3/1959, lần đầu đến thăm Trường Huấn luyện Hải quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các thủy thủ phải yêu biển, chịu khó học tập kỹ thuật để sử dụng tàu cho tốt, chiến đấu cho giỏi; phải học tập, phấn đấu không ngừng để bản thân tiến bộ và xây dựng Hải quân mau chóng trưởng thành. Lời dạy ấy đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị: Người chiến sĩ Hải quân muốn hoàn thành nhiệm vụ phải có bản lĩnh, có tri thức, làm chủ vũ khí, trang bị và không ngừng nâng cao trình độ chiến đấu.

Ngày 15/3/1961, Người căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Người đồng thời chỉ rõ, nhiệm vụ của Hải quân “rất nặng nề nhưng rất vẻ vang”, yêu cầu phải tìm ra cách đánh phù hợp với con người, địa hình và vũ khí, trang bị của ta; học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên truyền thống đánh giặc của tổ tiên. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh chính trị, trí tuệ quân sự, tinh thần tự lực, tự cường và nghệ thuật phát huy nhân tố con người.

Ngày 13/11/1962, thăm căn cứ Hải quân tại đảo Vạn Hoa, Quảng Ninh, Người lại ân cần căn dặn cán bộ, chiến sĩ phải biết “yêu quý đảo như nhà mình”. Từ “biển là cửa”, “phải biết giữ gìn lấy nó” đến “yêu quý đảo như nhà mình”, những lời dạy của Bác đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, bồi đắp ý thức trách nhiệm của người chiến sĩ Hải quân đối với từng sải biển, hòn đảo của Tổ quốc.

Thấm nhuần lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và phát triển, Hải quân nhân dân Việt Nam đã lập nên nhiều chiến công vang dội, có chiến công đã trở thành huyền thoại.

Chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam, ngày 2 và 6/8/1964.

Với quyết tâm “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, bộ đội Hải quân cùng các lực lượng rà phá hàng nghìn quả thủy lôi, bom từ trường, mở luồng, thông tuyến, giữ vững mạch máu giao thông trên biển.

Các chiến sĩ Đặc công Hải quân - những “Yết Kiêu thời đại Hồ Chí Minh” lập nhiều chiến công xuất sắc trên chiến trường Đông Hà - Cửa Việt. Những con tàu không số trên tuyến vận tải chiến lược Đường Hồ Chí Minh trên biển vượt qua sự phong tỏa gắt gao của kẻ thù, vận chuyển người và vũ khí từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Chiến công của Đặc công Hải quân - những “Yết Kiêu thời đại Hồ Chí Minh” với cách đánh độc đáo. (Ảnh tư liệu)

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Hải quân nhân dân Việt Nam phối hợp với các lực lượng thần tốc tiến công, giải phóng quần đảo Trường Sa và các đảo trên vùng biển miền Trung, Tây Nam, góp phần làm nên thắng lợi trọn vẹn của dân tộc.

Sau ngày đất nước thống nhất, bộ đội Hải quân tiếp tục chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới Tây Nam của Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả tại Lào, Campuchia.

Trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, ý chí ấy tiếp tục được thử thách và tỏa sáng. Đêm 13 rạng sáng 14/12/1998, giữa cơn bão dữ tại Nhà giàn DK1/6 Phúc Nguyên A, Đại úy Vũ Quang Chương và đồng đội đã bình tĩnh, kiên cường bám trụ đến những thời khắc cuối cùng. Tinh thần “còn người, còn nhà giàn” trở thành biểu tượng của lòng trung thành, ý chí và trách nhiệm của người chiến sĩ Hải quân trước Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.

Nhà giàn DK1 trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc. (Ảnh tư liệu)

Những năm qua, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, cán bộ, chiến sĩ Hải quân luôn nêu cao cảnh giác, nắm chắc tình hình, xử trí đúng đối sách, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia - dân tộc; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển để xây dựng, phát triển đất nước.

Cùng với thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Quân chủng không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, làm chủ trang bị kỹ thuật hiện đại; đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng; gắn bó, giúp đỡ Nhân dân và ngư dân vươn khơi, bám biển; tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển vững chắc.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ ba cho Quân chủng Hải quân.

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay

Trong bối cảnh đó, giá trị của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không hề phai nhạt mà càng đặt ra yêu cầu phải bảo vệ Tổ quốc bằng bản lĩnh chính trị vững vàng, sức mạnh tổng hợp, trí tuệ và nghệ thuật xử trí đúng đắn; kiên quyết bảo vệ chủ quyền nhưng đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

Trước hết, xây dựng Quân chủng Hải quân vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 44/NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 20/NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; thực hiện tốt chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương về “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và “5 vững”.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; nghiên cứu, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, đơn vị chiến đấu, đơn vị tuyến đầu.

Hải quân nhân dân Việt Nam đẩy mạnh xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. 

Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, trọng tâm là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên biển. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác dân vận, hướng mạnh về cơ sở, gắn bó mật thiết với Nhân dân, nhất là ngư dân; thực hiện hiệu quả Chương trình “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển”, Hoạt động “Hải quân nhận đỡ đầu con ngư dân”; vận động ngư dân chấp hành nghiêm pháp luật, không khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Chủ động, kịp thời phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ Nhân dân trong mọi tình huống; qua đó củng cố niềm tin, tăng cường đoàn kết quân, dân, xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển ngày càng vững chắc.

Hải quân Việt Nam đồng hành cùng ngư dân vươn khơi, bám biển. 

Thứ tư, bảo đảm tốt hậu cần, kỹ thuật, tài chính; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao khả năng tự chủ trong bảo đảm cho các nhiệm vụ. Phát huy tiềm lực các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, sửa chữa của Quân chủng, góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng và nâng cao chất lượng bảo đảm cho bộ đội.

Thứ năm, nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng; qua đó, vừa góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Hải quân nhân dân Việt Nam, vừa tạo thế và lực thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Tròn 60 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thế giới và tình hình đất nước đã có nhiều đổi thay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao. Song, giá trị tư tưởng, ý nghĩa thời đại và sức lay động của chân lý ấy vẫn vẹn nguyên, trở thành nguồn động lực tinh thần to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Phát huy truyền thống Quân chủng ba lần Anh hùng, cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam tiếp tục đoàn kết, khắc phục khó khăn, ra sức xây dựng Quân chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển. Đó chính là sự tiếp nối và hiện thực hóa sinh động chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phó Đô đốc Nguyễn An Phong, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân chủng Hải quân