Điện, sóng ở miền núi Tuyên Quang chưa ổn định
Chiều 20/4, tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội tập trung thảo luận về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, nhiều ý kiến đại biểu bàn về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 với nhiều giải pháp cụ thể. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Phiên thảo luận.
Thảo luận tại hội trường, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên) nêu ý kiến về việc chuyển dịch mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ làm động lực trung tâm. Đại biểu kiến nghị Chính phủ cần đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ít nhất 1,5% GDP. Bên cạnh đó, cần có các chính sách đột phá để thu hút chuyên gia giỏi, cả người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, về làm việc.
Cùng quan điểm lấy khoa học, công nghệ làm động lực trung tâm của phát triển, đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang) đề nghị cần ưu tiên đầu tư hoàn thiện hạ tầng số cho khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó khai thác các dư địa tăng trưởng mới.
Từ thực tiễn địa bàn biên giới, miền núi, đại biểu cho rằng vấn đề mang tính nền tảng, có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển chính là hạ tầng số. Tuy nhiên, theo đại biểu, tại nhiều khu vực, hạ tầng này vẫn chưa được phát triển đồng bộ. Nguyên nhân không chỉ đến từ khoảng cách công nghệ, mà còn xuất phát từ những điều kiện cơ bản như điện, viễn thông và cơ chế đầu tư công chưa phù hợp với đặc thù địa bàn.
Đại biểu Lý Thị Lan, Đoàn Tuyên Quang đề nghị ưu tiên đầu tư, hoàn thiện hạ tầng số cho khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đại biểu Lý Thị Lan cho rằng, chuyển đổi số ở miền núi không đơn thuần là ứng dụng công nghệ mà là phương thức rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng. Thực tế cho thấy, ở đâu triển khai hiệu quả, ở đó khả năng tiếp cận dịch vụ công, giáo dục được cải thiện rõ rệt. Trong điều kiện địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư lớn, hạ tầng số càng có ý nghĩa trong việc đưa dịch vụ đến gần người dân và nâng cao hiệu quả quản trị cơ sở.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa yêu cầu và thực tiễn vẫn còn lớn. Tại Tuyên Quang, sau khi hợp nhất địa bàn, quy mô quản trị tăng lên nhưng vẫn còn 41 thôn chưa có điện, 357 thôn có điện nhưng chưa ổn định, 199 thôn còn tình trạng “trắng” hoặc “lõm” sóng. Dù toàn tỉnh đã có hơn 3.000 trạm BTS và 100% trung tâm xã có cáp quang, 5G, nhưng khả năng tiếp cận vẫn chưa đồng đều ở các thôn, bản khó khăn. Điều này cho thấy “điện đã có nhưng chưa đủ, sóng đã đến nhưng chưa phủ kín, hạ tầng số đã hình thành nhưng chưa đồng bộ để chuyển hóa thành động lực phát triển thực chất”.
Vì vậy, theo đại biểu, không thể nói đến chính quyền số, kinh tế số hay xã hội số một cách đầy đủ ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nếu nền tảng điện và công nghệ viễn thông chưa bảo đảm ổn định. “Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà đã trở thành điểm nghẽn trong cấu trúc phát triển”, đại biểu nhận định.
Cũng theo đại biểu, hiện nhiều chương trình lớn hướng về khu vực miền núi, biên giới đang được triển khai như các chương trình mục tiêu quốc gia, phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quy hoạch điện, viễn thông công ích... nhưng nguồn lực còn phân tán, thiếu tính tích hợp. Việc phủ sóng tại vùng "lõm" chủ yếu dựa vào doanh nghiệp viễn thông, trong khi chi phí cao, hiệu quả tài chính thấp, nguồn lực nhà nước chưa đủ mạnh.
Từ thực tế, đại biểu nhấn mạnh khi có điện, có sóng và được hướng dẫn, người dân tiếp cận rất nhanh. Do đó, điểm nghẽn nằm ở cơ chế đầu tư hạ tầng số chưa đủ mạnh và chưa được thiết kế phù hợp. Vấn đề đặt ra không chỉ là tăng nguồn lực mà còn là cách thiết kế chính sách và tổ chức lại nguồn lực.
Trước thực tế đó, đại biểu đề xuất ba kiến nghị.
Thứ nhất, Chính phủ cần rà soát toàn diện định mức đầu tư hạ tầng số, phân biệt rõ địa bàn đặc biệt khó khăn, tính đúng, tính đủ chi phí và bổ sung hệ số điều chỉnh phù hợp.
Thứ hai, tổ chức đầu tư theo hướng tích hợp điện, viễn thông và hạ tầng số trong cùng chương trình, dự án; lồng ghép các nguồn lực và xác định rõ đầu ra đến từng thôn, bản.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả chính sách viễn thông công ích, đồng thời tăng cường vai trò đầu tư của Nhà nước tại các vùng đặc biệt khó khăn.
Phát triển, lan tỏa liên kết vùng
Bên cạnh đó, đại biểu Quốc hội cũng đề cập đến vấn đề quy hoạch và định vị vai trò các địa phương trong liên kết vùng. Theo quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2045, các hành lang phát triển đã được hình thành, song vai trò kết nối của một số địa phương, trong đó có Tuyên Quang thì vẫn còn dư địa.
Chính vì vậy, việc xác định rõ vị trí, chức năng không chỉ mang ý nghĩa định hướng mà còn tác động trực tiếp đến khả năng thu hút và phân bổ nguồn lực.
Với lợi thế địa lý, Tuyên Quang có thể trở thành điểm kết nối giữa các không gian phát triển thông qua các tuyến giao thông chiến lược như cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang, kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai, các tuyến quốc lộ liên vùng... đây không chỉ là các dự án giao thông đơn lẻ mà là trục liên kết mở rộng không gian phát triển và kết nối thị trường.
Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, việc xác định rõ vai trò từng địa phương trong quy hoạch vùng là điều kiện để đầu tư có trọng tâm, tạo liên kết và lan tỏa. Đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, cụ thể hóa vai trò các địa phương miền núi gắn với chức năng kết nối.
“Nếu hạ tầng số là nền tảng của chuyển đổi số thì quy hoạch vùng chính là cơ sở để phân bổ nguồn lực. Chỉ khi hai yếu tố này được thiết kế đồng bộ, mới có thể rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng một cách thực chất và bền vững”, đại biểu Lý Thị Lan nêu quan điểm.
"Không thể nói đến chính quyền số, kinh tế số hay xã hội số một cách đầy đủ ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nếu nền tảng điện và công nghệ viễn thông chưa bảo đảm ổn định. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà đã trở thành điểm nghẽn trong cấu trúc phát triển”, đại biểu Lý Thị Lan phát biểu.