Đóng

Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên khoáng sản

Việc hoàn thiện pháp luật về địa chất, khoáng sản đang đặt ra yêu cầu thực thi đồng bộ, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, thẩm quyền và nghĩa vụ tài chính.

Sáng 9/10, tại Thái Nguyên, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội nghị Tuyên truyền, phổ biến Luật Địa chất và Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tham dự hội nghị có lãnh đạo Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam; đại diện Sở Công Thương các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, lãnh đạo các địa phương cùng đại diện các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản.

Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Minh Đức

Phát biểu khai mạc, ông Trần Phương, Phó Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 đánh dấu bước thay đổi đáng kể trong tư duy quản lý so với Luật Khoáng sản năm 2010. Một trong những điểm mới nổi bật là việc phân chia khoáng sản thành bốn nhóm để áp dụng cơ chế quản lý phù hợp, thay vì áp dụng cơ chế quản lý như nhau đối với các loại khoáng sản có đặc điểm, giá trị và vai trò khác nhau.

Ông Trần Phương, Phó Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (Bộ Công Thương) phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Minh Đức

Lãnh đạo Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết, cơ quan quản lý đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Luật Địa chất và khoáng sản theo hướng tăng cường phân cấp cho địa phương, đổi mới phương thức quản lý và đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu số. Ông Trần Phương nhấn mạnh về một trong những định hướng đổi mới công tác quản lý là giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm. Theo đó, cơ quan quản lý dự kiến phân luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ theo mức độ tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân để có biện pháp kiểm tra, giám sát phù hợp. Đồng thời, chú trọng chế biến sâu và quản lý khoáng sản theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Đưa chính sách mới vào thực tiễn quản lý khoáng sản

Trình bày chuyên đề tổng quan, bà Phạm Thị Thanh, Phó Trưởng phòng Pháp chế, Kiểm tra, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết, từ tháng 7/2025 đến tháng 9/2026, hệ thống pháp luật về địa chất và khoáng sản liên tục được cập nhật, hoàn thiện. Đáng chú ý là Luật số 147/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 cùng các nghị định, nghị quyết hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc. Riêng ngày 15/9/2026, Bộ Công Thương ban hành 10 thông tư, từ số 51 đến số 60/2026/TT-BCT, cụ thể hóa các quy định trong lĩnh vực này.

Bà Phạm Thị Thanh, Phó Trưởng phòng Pháp chế, Kiểm tra, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Minh Đức

Theo bà Phạm Thị Thanh, những điều chỉnh này gắn với yêu cầu thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 10/2/2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, tài nguyên địa chất, khoáng sản vừa là nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa là nguồn dự trữ lâu dài của quốc gia, đòi hỏi phải được quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. “Khoáng sản không phải chỉ là nguồn thu trước mắt mà là tài sản dự trữ lâu dài của quốc gia, gắn với chế biến sâu, tiết kiệm và bảo vệ môi trường”, báo cáo viên nhấn mạnh.

Trên tinh thần đó, hệ thống pháp luật hiện hành tập trung giải quyết năm nhóm vấn đề trọng tâm. Đó là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương; khơi thông nguồn vật liệu phục vụ các công trình, dự án; tăng cường minh bạch trong kiểm soát sản lượng khai thác; cải cách thủ tục hành chính và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động quản lý nhà nước khi chuyển giao chức năng, nhiệm vụ.

Theo đó, bà Phạm Thị Thanh nhấn mạnh năm thông điệp cốt lõi mà các cơ quan quản lý, tổ chức và doanh nghiệp cần nắm vững trong quá trình triển khai chính sách mới. 

Một là, áp dụng đúng văn bản pháp luật. Cần nắm vững các quy định của Luật Địa chất và khoáng sản, các luật sửa đổi, bổ sung, nghị định, nghị quyết đặc thù và thông tư hướng dẫn; đồng thời xác định rõ những quy định đang có hiệu lực và các cơ chế chỉ được áp dụng trong thời hạn nhất định.

Hai là, xác định đúng nhóm khoáng sản. Việc phân loại chính xác khoáng sản theo bốn nhóm là căn cứ xác định thẩm quyền cấp phép, trình tự thực hiện, công nhận kết quả thăm dò và các mốc thời hạn liên quan.

Ba là, xác định đúng cơ quan có thẩm quyền. Trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển giao chức năng quản lý nhà nước về Bộ Công Thương, việc xác định chính xác cơ quan tiếp nhận, giải quyết hồ sơ có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm thực hiện thủ tục đúng quy định.

Bốn là, sử dụng đúng biểu mẫu mới. Các tổ chức, cá nhân cần sử dụng các biểu mẫu tương ứng được ban hành kèm theo 10 thông tư của Bộ Công Thương, từ số 51 đến số 60/2026/TT-BCT ngày 15/9/2026.

Năm là, tuân thủ nghiêm các mốc thời hạn. Đặc biệt lưu ý thời hạn đăng ký, thông báo trước khi triển khai hoạt động; thời hạn nộp báo cáo định kỳ, bản đồ hiện trạng mỏ và thời hạn thực hiện thủ tục cấp đổi giấy phép khai thác khoáng sản.

Đổi mới cơ chế tính và quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

Trình bày tham luận về tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, ông Quách Đức Điệp, Phó Trưởng phòng Kinh tế Tài nguyên địa chất, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết, Luật Địa chất và khoáng sản đã có những điều chỉnh quan trọng về căn cứ tính tiền, phương thức thu nộp và quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

Ông Quách Đức Điệp, Phó Trưởng phòng Kinh tế Tài nguyên địa chất, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam phát biểu tại chương trình. Ảnh: Minh Đức

Một trong những thay đổi là việc bỏ hai hệ số trong công thức tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, gồm K1, tức hệ số liên quan đến phương pháp khai thác (lộ thiên hoặc hầm lò) và K2, tức hệ số phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội tại khu vực khai thác. Theo quy định mới, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định trên cơ sở trữ lượng, khối lượng khoáng sản được phép khai thác, giá tính tiền cấp quyền và tỷ lệ thu tương ứng.

Lý giải sự điều chỉnh này, ông Quách Đức Điệp cho biết, việc quyết toán tiền cấp quyền theo sản lượng khai thác thực tế khiến hệ số K1 không còn cần thiết; trong khi việc bỏ hệ số K2 gắn với các chính sách ưu đãi đã được quy định trong pháp luật về đầu tư. “Hiện nay đã thực hiện quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo sản lượng khai thác thực tế. Do đó không còn hệ số K1”, ông Quách Đức Điệp nhấn mạnh.

Quy định về quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định là một trong những nội dung mới có tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, việc quyết toán được thực hiện định kỳ 5 năm một lần; khi gia hạn, điều chỉnh, cấp lại hoặc chuyển nhượng quyền khai thác; khi đóng cửa mỏ và đối với các giấy phép được cấp trước thời điểm Luật có hiệu lực thuộc diện phải quyết toán lần đầu.

Cùng với đó, phương thức thu nộp cũng có sự thay đổi. Từ năm 2026, cơ quan quản lý địa chất, khoáng sản không còn thực hiện việc xác định, thông báo riêng số tiền cấp quyền phải nộp hằng năm. Thay vào đó, cơ quan thuế căn cứ vào quyết định phê duyệt, điều chỉnh hoặc thông báo quyết toán để thông báo nghĩa vụ tài chính cho tổ chức, cá nhân.

Đặc biệt, đối với các giấy phép thuộc diện quyết toán lần đầu theo quy định chuyển tiếp, thời hạn hoàn thành là trước ngày 31/12/2026. Tuy nhiên, qua theo dõi, việc triển khai tại một số địa phương vẫn còn chậm, mặc dù Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã có văn bản đôn đốc.

Trước thực tế này, ông Quách Đức Điệp đề nghị Sở Công Thương các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Cao Bằng khẩn trương triển khai công tác quyết toán, bảo đảm hoàn thành đúng thời hạn quy định.

Trong khuôn khổ hội nghị, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận và được giải đáp những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai Luật Địa chất và khoáng sản cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các quy định về cấp phép hoạt động khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và việc thực hiện các thủ tục hành chính theo quy định mới.

Lê Vân - Minh Đức